Chương 1: Cơ sở lý luận về chính sách đẩy mạnh xuất khẩu lao động. Chương 2: Thực trạng chính sách đẩy mạnh xuất khẩu lao động Việt Nam sang thị trường các nước khu vực Châu Á giai đoạn 2010 - 2015. Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách đẩy mạnh xuất khẩu lao động Việt Nam sang thị trường các nước khu vực Châu Á đến năm 2020. 6 CHƢƠNG 1: CƠSỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH ĐẨY MẠNH XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG 1.
Xuất khẩu lao động 1. Các khái niệm a, Khái niệm xuất khẩu Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật (Luật Thương mại, 2005). Việc mua bán hàng hóa, dịch vụ của quốc gia này cho quốc gia khác trên cơ sở dùng tiền để thanh toán được gọi là xuất khẩu (Đoàn Thị Yến, 2014). Mục đích của xuất khẩu là khai thác lợi thế của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế.
Dựa trên cơ sở là sự phát triển hoạt động mua bán hàng hóa trong nước, xuất khẩu đã và đang diễn ra mạnh mẽ cả về chiều rộng lẫn chiều sâu trong tất cả các ngành, các lĩnh vực, dưới mọi hình thức với mục tiêu nhằm đem lại lợi ích cho các bên tham gia (Lê Văn Tùng, 2003). Có nhiều khái niệm khác nhauvề xuất khẩu nhưngvới mỗi một khái niệm đều đưa ra được những đặc điểm cơ bản nhất của hoạt động xuất khẩu là mua bán hàng hóa, dịch vụ từ quốc gia này cho quốc gia khác. Từ những khái niệm trên đã cho tác giả một cách nhìn tổng quan hơn về xuất khẩu, đó là hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ có lợi thế của quốc gia này cho quốc gia khác. b, Khái niệm lao động Trong kinh tế học, lao động,được hiểu là một yếu tố sản xuất do con người tạo ra và là một dịch vụ hay hàng hóa.
Người có nhu cầu về hàng hóa này là người sản xuất. Còn người cung cấp hàng hóa này là người lao động. Cũng như mọi hàng hóa và dịch vụ khác, lao động được trao đổi trên thị trường, gọi là thị trường lao động. Giá cả của lao động là tiền công thực tế mà người sản xuất trả cho người lao động.
Mức tiền công chính là mức giá của lao động. Theo cách hiểu của kinh tế học cho thấy, lao động là một loại hàng hóa, dịch vụ được trao đổi trên thị trường lao động giữa người lao động và người có nhu cầu sử dụng loại hàng hóa dịch vụ này. Theo từ điển tiếng Việt, lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra những của cải vật chất, tinh thần cho xã hội (Viện Ngôn ngữ học, 2006). Theo Viện ngôn ngữ thì lao động là hoạt động có mục đích, ý thức của con người để tạo ra những thứ mà họ cần trong cuộc sống hàng ngày.
7 Như vậy, hiểu một các khái quát hơn về lao động chính là hoạt động có mục đích, có ý thức của người lao động nhằm tạo ra những của cải vật chất, tinh thần phù hợp với mục đích nhất định của bản thân hoặc của người thuê người lao động. c, Khái niệm xuất khẩu lao động Đến nay, trên thế giới vẫn chưa có một khái niệm chuẩn nào về xuất khẩu lao động, mỗi một tác giả thường đưa ra những nhận định theo ý kiến chủ quan của cá nhân mình bằng các diễn đạt khác nhau, song các khái niệm đó vẫn luôn bám sát và cũng hướng tới một ý chung là đưa lao động từ nước này sang nước khác. Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO, 1991) thì: Xuất khẩu lao động là hoạt động kinh tế của một quốc gia thực hiện việc cung ứng lao động cho một quốc gia trên cơ sở những hiệp định hoặc hợp đồng có tính chất hợp pháp quy định được sự thống nhất giữa các quốc gia đưa và nhận người lao động. Theo Đặng Đình Đào (2005): Xuất khẩu lao động là một hình thức đặc thù của xuất khẩu nói chung và là một bộ phận của kinh tế đối ngoại, mà hàng hóa đem xuất là sức lao động của con người, còn khách mua là chủ thể người nước ngoài.
Nói cách khác, xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế dưới dạng dịch vụ cung ứng lao động cho nước ngoài, mà đối tượng của nó là con người. Từ các khái niệm trên và xét theo nội dung nghiên cứu này, tác giả khái quát lại về khái niệm xuất khẩu lao độnglà: Xuất khẩu lao động cũng là hoạt động xuất khẩu, hàng hóa ở đây là sức lao động của người lao động, là quá trình đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài một cách hợp pháp, được quản lý và hỗ trợ của nhà nước theo hợp đồng đã ký kết của người lao động với bên đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Đặc điểm của xuất khẩu lao động Sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt, do đó, hoạt động XKLĐ vừa có đầy đủ các đặc điểm của xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ thông thường bên cạnh đó cũng có những đặc điểm khác mang đặc trưng riêng. Trong nghiên cứu này, tác giả tham khảo theo Nguyễn Phúc Khanh (2004) và đưa ra đặc điểm của hoạt động xuất khẩu lao động như sau: Hoạt động XKLĐ là một hoạt động kinh tế đối ngoại đặc thù Tính đặc thù của hoạt động kinh tế đối ngoại XKLĐ thể hiện ở chỗ, hoạt động XKLĐ vừa là một hoạt động kinh tế đồng thời vừa là một hoạt động mang tính chất xã hội sâu sắc.
+ XKLĐ là một hoạt động kinh tế. 8 Ở nhiều nước, XKLĐ đã trở thành một giải pháp để giải quyết việc làm cho lực lượng lao động ngày càng tăng cao, tích lũy tư bản từ nguồn tiền chuyển về nước của người lao động đi XKLĐ và các khoản thu khác từ hoạt động này. Những lợi ích này buộc các nước XKLĐ phải nỗ lực để có thể chiếm được thị phần XKLĐ cao nhất. Chính vì vậy, nước XKLĐ phải tính toán sao cho bù đắp được chi phí trong hoạt động XKLĐ và thu được các lợi ích kinh tế cho các chủ thể tham gia, vì vậy phải có cơ chế thích hợp để tăng tối đa khả năng cung lao động.
Mục tiêu kinh tế luôn được chú trọng trong hoạt động XKLĐ, do đó, mọi chủ trương, chính sách, các biện pháp quản lý, điều tiết của nhà nước về hoạt động XKLĐ đều bám sát đặc điểm này, định hướng và đảm bảo cho hoạt động XKLĐ đạt được mục tiêu lợi ích về kinh tế. + Xuất khẩu lao động là một hoạt động mang tính xã hội Không chỉ đơn thuần là một hoạt động kinh tế, XKLĐ còn là một hoạt động thể hiện rõ tính chất xã hội. Tính chất xã hội của hoạt động XKLĐ bắt nguồn từ tính chất đặc biệt của hàng hóa sức lao động. Sức lao động là hàng hóa đặc biệt vì nó không thể tách rời khỏi chủ thể là NLĐ.
Vì thế mà từ tầm vĩ mô, các chính sách điều tiết hoạt động XKLĐ đều phải kết hợp với các chính sách xã hội khác: phải đảm bảo được quyền lợi của người lao động ở nước ngoài như cam kết trong hợp đồng lao động, trong các hiệp định hợp tác lao động, cũng như đảm bảo các quyền lợi của họ về bảo hiểm xã hội, khám chữa bệnh, trợ cấp nghề nghiệp,. Bên cạnh đó, cũng cần chú trọng tới các yếu tố liên quan đến đời sống chính trị, tinh thần, văn hóa, sinh hoạt của người lao động như vấn đề thăm thân, tham gia các hoạt động văn hóa, lễ hội sinh hoạt tập thể,. Hoạt động xuất khẩu lao động là một hoạt động xuất khẩu dịch vụ Chính vì tính chất không tách rời với chủ thể lao động nói trên, XKLĐ là một hoạt động xuất khẩu dịch vụ rất đặc thù, khác hẳn với xuất khẩu hàng hóa thông thường. + Tính chất vô hình, không thể chia cắt: Đối với XKLĐ, yếu tố không hiện hữu thể hiện ở chỗ, hoạt động XKLĐ không chấm dứt khi đã hoàn thành thủ tục đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, nó kéo dài từ khi đưa người lao động đi XKLĐ, giúp người lao động thích nghi với công việc ở nước ngoài cho đến khi người lao động về nước.
Các bên liên quan đến hoạt động XKLĐ có quyền lợi và nghĩa vụ trong suốt thời hạn của hợp đồng, đồng thời, phải thường xuyên có những hành động để thực hiện nghĩa vụ quy định trong hợp đồng, hoặc cả trường hợp. 9 không quy định trong hợp đồng nhưng có liên quan đến quyền lợi của người lao động, người cung ứng lao động và người sử dụng lao động. + Tính chất không xác định: Dịch vụ có tính không đồng nhất, sản phẩm dịch vụ phi tiêu chuẩn hóa, chất lượng thường không được xác định, bởi các dịch vụ phụ thuộc vào người cung cấp chúng. Tính chất không xác định trong hoạt động XKLĐ do nó là một dịch vụ.
Chất lượng của hàng hóa sức lao động được phản ánh và phụ thuộc vào thể chất và tinh thần của người lao động, hay là khả năng dẻo dai, bền bỉ trong lao động, khả năng thành thạo và sáng tạo của người lao động cũng như điều kiện việc làm, sinh hoạt nghỉ ngơi, các hoạt động văn hóa,. cho người lao động. Giá cả của xuất khẩu lao động Hàng hóa xuất khẩu trong hoạt động XKLĐ là sức lao động, giá cả hàng hóa sức lao động xuất khẩu là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động của người LĐXK và được xác định trên thị trường lao động. Giá trị của hàng hóa sức lao động được xác định gồm: giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết để duy trì sự sống và đảm bảo tái sản xuất sức lao động của bản thân người lao động, để nuôi sống gia đình của người lao động và các chi phí đào tạo nghề nghiệp, kỹ năng lao động, các chi phí để thỏa mãn các nhu cầu văn hóa tinh thần của người lao động.
Như vậy, khi tính giá XK sức lao động phải tính đủ các yếu tố hình thành giá trị hàng hóa sức lao động, vàtính trong điều từng thị trường cụ thể. Hoạt động XKLĐ phải đảm bảo lợi ích kinh tế cho ba chủ thể tham gia. Hoạt động XKLĐ, ngoài sự tham gia của nhà nước và Doanh nghiệp XKLĐ, còn có sự tham gia trực tiếp của người lao động.