phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, và phụ lục, đề tài đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI HÀNG NHẬP KHẨU. CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CHÍNH SÁCH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI MỘT SỐ MẶT HÀNG NHẬP KHẨU. CHƢƠNG 3: PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI MỘT SỐ MẶT HÀNG NHẬP KHẨU. 18 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI HÀNG NHẬP KHẨU 1.
Tầm quan trọng của chính sách chống bán phá giá của Việt Nam đối với hàng nhập khẩu. Khái niệm bán phá giá, chính sách chống bán phá giá hàng nhập khẩu. Hiê ̣n nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về bán phá giá. Theo định nghĩa của Tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO), một sản phẩm bị coi là bán phá giá nếu nhƣ giá của sản phẩm đƣợc nhâ ̣p khẩ u từ nƣớc ngoài thấp hơn mức giá có thể so sánh đƣợc của sản phẩm tƣơng tự đƣợc tiêu dùng trong nƣớc theo điều kiện thƣơng mại thông thƣờng.
Nhƣ vậy về bản chất , bán phá giá hàng hóa chính là hành vi phân biệt giá cả : đối với cùng một sản phẩm hoặc sản phẩm tƣơng tự, nhƣng giá của hàng hóa nhâ ̣p khẩ u lại thấp hơn giá tiêu thụ hàng hóa tại thị trƣờng nội địa. Luật pháp và thông lệ quốc tế thừa nhận bán phá giá có thể dẫn đến thƣơng mại không công bằng vì ngành sản xuất nội địa nhập khẩu có thể chịu thiệt hại từ việc bán phá giá đó. Trong trƣờng hợp đó, và khi một số yêu cầu đƣợc đáp ứng, cơ quan có thẩm quyền của nƣớc nhâp khẩu có thể thực thi các hành động chống lại việc bán phá giá (chống bán phá giá: antidumping). Vậy khái niệm bán phá giá, bắt nguồn từ kinh tế học chính là việc định giá chiếm đoạt đƣợc luật hóa thành hành vi – hành vi bán hàng hóa với mức giá thấp hơn mức “giá thông thƣờng” của hàng hóa đó – là hành vi của doanh nghiệp, có thể bị trừng phạt bởi chính sách của chính phủ bằng các biện pháp thƣơng mại – đƣợc gọi là biện pháp chống bán phá giá (anti – dumping measures).
Ở Việt Nam, các nhà làm luật có những quan niệm về bán phá giá nhƣ 19 sau: Trong Pháp lệnh giá năm 2002, bán phá giá đƣợc hiểu là hành vi bán hàng hoá, dịch vụ với giá quá thấp so với giá thông thƣờng trên thị trƣờng Việt Nam để chiếm lĩnh thị trƣờng, hạn chế cạnh tranh đúng pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh khác và lợi ích của Nhà nƣớc. Với khái niệm trên, hành vi bán phá giá đƣợc xác định từ hai dấu hiệu: Dấ u hiê ̣u đầ u tiên là Doanh nghiệp (DN) đã bán hàng hóa, dịch vụ với giá quá thấp so với giá thông thƣờng của nó trên thị trƣờng Việt Nam. Phƣơng thức để xác định bán phá giá theo Pháp lệnh giá là so sánh hai chỉ số giá: giá bán thực tế và giá thông thƣờng của sản phẩm bị điều tra. Tuy nhiên, hai chỉ số này đều đƣợc xác định từ thị trƣờng Việt Nam.
Do đó, hành vi bán phá giá trong Pháp lệnh giá không phải là hiện tƣợng phân biệt giá mà chỉ là việc bán hàng hóa, dịch vụ với mức giá không theo đúng giá trị thông thƣờng của sản phẩm. Dấ u hiê ̣u thƣ́ hai của hành vi bán phá giá là : Mục đích của hành vi là chiếm lĩnh thị trƣờng, hạn chế cạnh tranh đúng pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh khác, lợi ích của Nhà nƣớc. Do đó, nếu chƣa xác định đƣợc mục đích của hành vi thì chƣa thể kết luận DN đã bán phá giá hàng hóa, dịch vụ. Nhƣ vâ ̣y, Chính sách chống bán phá giá hàng nhập khẩu là hệ thống các quy định, công cụ và biện pháp thích hợp mà nhà nƣớc áp dụng để điều chỉnh các hoạt động nhập khẩu ở những thời kỳ nhất định nhằm đạt đƣợc các mục tiêu đề ra trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội.
Có thể nói, chính sách CBPG đóng vai trò rất quan trọng đối với mỗi quốc gia và đƣợc xem là một trong những công cụ quan trọng của chính sách thƣơng mại quốc tế. Các quy định của chính sách này có ảnh hƣởng ngay lập 20 tức đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam, cụ thể nhƣ sau: Ảnh hƣởng đầu tiên của các quy định của chính sách chống bán phá giá là: Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nƣớc tăng cƣờng sức cạnh tranh, năng lực sản xuất và có thể cạnh tranh trên thị trƣờng nội địa trƣớc sức ép cạnh tranh từ hàng nhập khẩu Ảnh hƣởng tiếp theo của các quy định là : Bảo vệ thị trƣờng nội địa: tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nƣớc đứng vững và vƣơn lên trong hoạt động kinh doanh. Cuố i cùng , Chính sách CBPG là một bộ phận trong chính sách đối ngoại của một quốc gia. Do chính sách CBPG có ảnh hƣởng trực tiếp tới hoạt động thƣơng mại song phƣơng giữa Việt Nam và các quốc gia trên thế giới.
Chính vì vậy, bất kỳ các biện pháp CBPG đƣợc đƣa ra cũng có thể ảnh hƣởng tới quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia. Do vậy, việc xem xét và cân nhắc các biện pháp CBPG nên cần quan tâm tới các mục tiêu chung của chính sách đối ngoại quốc gia. Tác động của việc bán phá giá hàng hóa nhập khẩu đối với thị trường trong nước Tác động của hiện tƣợng bán phá giá đƣợc nhìn nhận cả góc độ tích cực và tiêu cực bằng việc phân tích ảnh hƣởng của hiện tƣợng này đối với lợi ích của ngƣời tiêu dùng, nhà sản xuất có liên quan và các DN kinh doanh sản phẩm cạnh tranh nội địa.Việc hàng hóa nhập khẩu bán phá giá có những ảnh hƣởng đáng kể đến ngƣời tiêu dùng của nƣớc nhập khẩu ngay cả trong ngắn hạn và dài hạn. Trong ngắn hạn, việc bán phá giá đã tối đa hóa lợi ích cho ngƣời tiêu dùng vì họ có cơ hội mua đƣợc hàng hóa nhập khẩu giá rẻ.
Với tâm lý vị lợi, ngƣời tiêu dùng luôn có xu hƣớng lựa chọn hàng hóa phù hợp với nhu cầu sử dụng ở mức giá thấp nhất có thể. Sự xuất hiện của hàng hóa nhập khẩu phá giá trên thị trƣờng đã làm tăng khả năng thỏa mãn nhu cầu của 21 khách hàng. Nếu phân tích thị trƣờng trong trạng thái tĩnh, dùng phƣơng pháp nhân độ thỏa dụng của từng cá nhân thành độ thỏa dụng của cả thị trƣờng, có thể thấy, hiện tƣợng bán phá giá có khả năng làm tăng thặng dƣ tiêu dùng tại nƣớc nhập khẩu. Với nguyên tắc, trong kinh tế thị trƣờng, lƣợng hàng hóa ngƣời ta mua phụ thuộc vào giá cả của nó, hiện tƣợng bán phá giá của hàng hóa nhập khẩu có thể là động lực kích thích tiêu dùng.
Theo đó, bằng việc tối đa hóa độ thỏa dụng cho ngƣời tiêu dùng, hàng hóa nhập khẩu phá giá tác động đến nhu cầu của ngƣời tiêu dùng qua hiệu ứng thu nhập. Trong giáo trình Kinh tế học tập 1, hai nhà kinh tế học Paul A Samuelson - Wiliam D. Nordhalls khẳng định rằng hiệu ứng thu nhập phản ánh tác động của sự thay đổi giá cả đến lƣợng cầu của hàng hóa bằng cách làm tăng hoặc giảm thu nhập thực tế của ngƣời tiêu dùng. Một khi giá của hàng hóa có xu hƣớng giảm, sẽ làm tăng hiệu ứng thu nhập của ngƣời tiêu dùng, từ đó tăng lƣợng tiêu thụ hàng hóa.
Ngoài ra, việc bán phá giá hàng hóa nhập khẩu còn làm tăng mức độ cạnh tranh trên thị trƣờng. Việc hàng hóa nhập khẩu phá giá với giá bán rẻ hơn so với hàng hóa nội địa đã tạo ra sức ép cho ngành sản xuất nội địa trong việc tìm phƣơng cách nâng cao khả năng cạnh tranh theo nguyên tắc giá cả là tín hiệu đối với ngƣời sản xuất và ngƣời tiêu dùng. Khi hàng hóa nhập khẩu có giá rẻ hơn, hàng hóa nội địa trở thành mặt hàng có giá cao tƣơng đối. Với sự tác động của hiệu ứng thay thế này, ngƣời tiêu dùng có xu hƣớng dùng hàng hóa nhập khẩu với giá rẻ hơn để thỏa mãn nhu cầu của mình và đẩy các DN nội địa vào tình trạng hoặc tìm cách giảm chi phí để tăng khả năng cạnh tranh về giá, hoặc mất khách hàng.
Mức cạnh tranh tăng sẽ có tác dụng làm giảm sức ỳ của các DN nội địa, làm giảm khả năng bóc lột khách hàng của các DN nội địa với giả thiết rằng trƣớc khi có hiện tƣợng bán phá giá của hàng hóa nhập khẩu, các DN này đang có vị trí độc quyền. 22 Trong dài hạn, quyền lợi của ngƣời tiêu dùng có thể bị xâm hại nếu DN nƣớc ngoài bán phá giá hàng hóa để thực hiện chiến lƣợc chiến đoạt thị trƣờng bằng cách định giá hủy diệt ngành sản xuất trong nƣớc. Mặc dù bán phá giá đem lại lợi ích cho ngƣời tiêu dùng ở hiện tại, song khi đã chiếm đoạt đƣợc thị trƣờng trong nƣớc, giá của hàng hóa nhập khẩu sẽ tăng vọt trong tƣơng lai để các DN lấy lại những gì đã mất từ việc phá giá. Ngƣời tiêu dùng lại trở thành nạn nhân của mức giá độc quyền do các DN nƣớc ngoài ấn định.
Sự suy đoán về khả năng giá tăng trong tƣơng lai hoặc sản lƣợng hàng hóa nhập khẩu sẽ giảm để chi phối cung cầu là một trong những căn cứ để kết luận về bản chất hạn chế cạnh tranh của hành vi bán phá giá có mục đích cƣớp đoạt thị trƣờng. Tác động của bán phá giá đối với các DN có liên quan tại nước nhập khẩu. Các DN có liên quan đƣợc xác định là những DN của nƣớc nhập khẩu hoạt động ở ngành sản xuất khác có sử dụng hàng hóa nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất. Khi hàng hóa nhập khẩu bán phá giá, các DN nói trên có đƣợc nguồn nguyên liệu rẻ để sản xuất, kinh doanh, từ đó sẽ góp phần thúc đẩy tăng trƣởng cho ngành sản xuất mà họ hoạt động.
Tác động của bán phá giá đến ngành sản xuất nội địa kinh doanh sản phẩm cạnh tranh với hàng hóa nhập khẩu (gọi tắt là ngành sản xuất nội địa hoặc DN sản xuất nội địa). Tác động tiêu cực của bán phá giá hàng hóa nhập khẩu chủ yếu đƣợc chứng minh bằng những thiệt hại mà ngành sản xuất nội địa phải gánh chịu.