CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TUYỂN DỤNG, ĐÀO TẠO NHÂN LỰC CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về nguồn nhân lực 1. Khái niệm Nguồn nhân lực là nguồn lực về con người và được nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh, trước hết với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho toàn xã hội. Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ người dân trong độ tuổi có khả năng lao động, là một trong ba yếu tố của tái sản xuất xã hội (công cụ lao động, sức lao động, đối tượng lao động).
Với cách hiểu này nguồn nhân lực tương đương với nguồn lao động. Nguồn nhân lực (tài nguyên nhân lực) là thuật ngữ dùng để chỉ tất cả người làm việc trong một tổ chức hay tất cả lao động của xã hội. Nguồn nhân lực còn có thể hiểu là tổng hợp những cá nhân, những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động. Với cách hiểu này nguồn nhân lực bao gồm những người trong độ tuổi lao động trở lên.
Trong doanh nghiệp, nguồn nhân lực được hiểu như sau: Nguồn nhân lực được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau với những đặc điểm cá nhân, năng lực, tiềm năng phát triển, kinh nghiệm khác nhau và được sắp xếp và đảm bảo những vị trí khác nhau theo một cơ cấu tổ chức nhất định, liên kết với nhau theo những mục tiêu chung, chiến lược chung và với các nguồn lực khác của doanh nghiệp. Nhân viên có khả năng hình thành các tổ chức công đoàn, các nhóm hội để bảo vệ quyền lợi của họ, hành vi của họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ, sự tác động của môi trường yếu tố chính cấu thành nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ phát triển nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực được xem xét trên các mặt thể lực và trí lực. Thể lực phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc nghỉ ngơi, chế độ y tế, tuổi tác, giới tính.
Trí lực bao gồm tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách còn ở mức mới mẻ, chưa bao giờ cạn kiệt vì đây là kho tàng nhiều bí ẩn trong mỗi con người. Phân loại nguồn nhân lực Tuỳ theo từng quan điểm và khía cạnh nghiên cứu khác nhau, nguồn lực cũng được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau. Căn cứ vào nguồn gốc hình thành nguồn nhân lực được chia ra thành ba loại: - Nguồn nhân lực trong độ tuổi lao động và đang có khả năng lao động. Việc quy định giới hạn độ tuổi phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội của từng nước khác nhau.
Trong từng thời kỳ lại có sự thay đổi, điều chỉnh cho phù hợp. Ở nước ta quy định giới hạn độ tuổi lao động từ 18 đến 55 (đối với nữ) và từ 18 đến 60 (đối với nam). - Nguồn lực tham gia hoạt động kinh tế hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế. Đây là những người có công ăn việc làm và đang hoạt động trong nền kinh tế quốc dân.
- Nguồn nhân lực dự trữ: nguồn nhân lực này bao gồm những người trong độ tuổi lao động, nhưng vì lý do khác nhau nên chưa tham gia hoạt động kinh tế, song khi cần có thể huy động được cụ thể là: + Những người làm công việc nội trợ trong gia đình, đây là nguồn nhân lực đáng kể và đại bộ phận là lao động nữ. + Những người tốt nghiệp các trường phổ thông trung học và chuyên nghiệp song chưa có việc làm, là nguồn nhân lực dự trữ rất quan trọng và có chất lượng nếu tiếp tục được đào tào. + Những người vừa hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về. Họ đã được rèn luyện về sức khoẻ, ý chí, đạo đức cách mạng.
Vì vậy, đây là nguồn nhân lực tốt khi được sắp xếp công việc phù hợp. Vai trò của nguồn nhân lực Sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia tùy thuộc vào việc quốc gia đó sử dụng như thế nào đối với các nguồn lực: nhân lực, tài lực và vật lực. Trong đó, nguồn nhân lực đóng một vai trò quyết định, then chốt trong việc phát triển kinh tế xã hội. Bởi vì con người là chủ thể đích thực, sáng tạo ra lịch sử, là trọng tâm của sự phát triển kinh tế xã hội.
Lịch sử phát triển xã hội loài người đã chứng minh cho luận điểm trên. Quá trình này trải qua ba giai đoạn: “Giai đoạn kinh tế sức lao động; giai đoạn kinh tế tài nguyên thiên nhiên và giai đoạn kinh tế tri thức”.Trong đó tri thức là nguồn tài nguyên vô hình nhưng có vai trò quan trọng nhất. Năng suất lao động không ngừng tăng lên 5 qua từng giai đoạn phát triển kinh tế. Năng suất lao động tăng là do con người luôn luôn sáng tạo, mà nguồn nhân lực đầu tiên của sáng tạo lại chính là tri thức.
Từ khi có lịch sử loài người đến nay, kinh tế luôn đi cùng với tri thức. Do đó để phát triển kinh tế xã hội phải trang bị tri thức cho người lao động, hay nói cách khác là phát triển nguồn nhân lực với những quan điểm sau: - Đặt con người ở vị trí trọng tâm trong chiến lược kinh tế xã hội, mọi chính sách, mọi giải pháp nhằm giải phóng lực lượng sản xuất và sử dụng có hiệu quả cao nhất nguồn nhân lực nhằm phát huy tiềm năng của nguồn nhân lực. - Nhân tố con người phải được phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần, văn hoá nhằm có được con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, đạo đức trong sáng, tác phong công nghiệp. Để phát triển con người, tạo ra sức sáng tạo mạnh mẽ, sức sản xuất được giải phóng, tạo hiệu quả kinh tế cao, sự phát triển lành mạnh và bền vững.
- Phát huy nguồn nhân lực bằng cách tạo mọi điều kiện để người lao động làm việc và cống hiến cho xã hội nhiều hơn. Muốn như vậy phải phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, đa dạng hoá các hình thức sở hữu, thúc đẩy nhanh quá trình phân công lao động trong phạm vi từng doanh nghiệp đến khu vực và toàn cầu. Giải phóng mọi tiềm năng vốn, kỹ thuật và công nghệ. - Nâng cao trình độ học vấn và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, sức sáng tạo của người lao động theo hướng phát triển của nền kinh tế tri thức.
Nâng cao sức sản xuất, sức sáng tạo của con người, tôn trọng quyền tự do lao động và tính chủ động tự rèn luyện và tự đào tạo của người lao động. Tôn vinh và chú trọng người tài là nhân tố phát triển nhanh và bền vững. - Xây dựng và hoàn thiện hệ thống giáo dục và đào tạo, các chương trình đào tạo, các ngành nghề đào tạo phù hợp và đáp ứng đủ yêu cầu cho sự phát triển trước mắt và lâu dài, phối hợp với các ngành hữu quan, đảm bảo sự ổn định giữa chương trình, mục tiêu và cơ cấu ngành nghề theo yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Như vậy, trình độ phát triển là cốt lõi của phát triển kinh tế xã hội, vai trò của nguồn nhân lực vừa là động lực vừa là mục tiêu của kinh tế xã hội.
Cơ sở lý luận về tuyển dụng 1. Khái niệm, phân loại tuyển dụng nhân sự Nghiên cứu kỹ các kế hoạch chiến lược của tổ chức mình là nhiệm vụ trước tiên mà nhà quản trị phải thực hiện. Từ đó xem xét với nguồn nhân lực hiện thời của tổ chức có thể đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của nhiệm vụ đặt ra hay không? Thông thường việc đáp ứng đầy đủ rất khó xảy ra nếu không mốn nói là không thể. Với một kế hoạch chiến lược thì trong tổ chức luôn xảy ra tình trạng dư thừa hoặc thiếu nhân viên là như thế nào? Trong trường hợp khiếm dụng nhân viên, nhà quản trị cần phải thực hiện chương trình thuyên chuyển nhân viên theo đúng khả năng và tiềm năng của họ, hoặc thăng chức và giáng chức theo đúng nhu cầu và khả năng của công ty.
Nếu sau khi sắp xếp lại mà vẫn thấy không đủ theo nhu cầu, tổ chức sẽ tiến hành chương trình tuyển mộ và tuyển chọn nhân viên. Còn trong trường hợp thặng dư nhân viên, nhà quản trị có thể áp dụng các biện pháp như: hạn chế việc tuyển dụng lại; giảm bớt giờ lao động; cho về hưu sớm hoặc giãn thợ (cho nghỉ tạm thời) … Như vậy, tuyển dụng lao động là một quá trình nghiên cứu, thu hút, lựa chọn và quyết định tiếp nhận một cá nhân vào vị trí của tổ chức. Hoạt động tuyển dụng nhân lực bao gồm tuyển mộ và tuyển chọn nhân lực. Chúng ta có thể hiểu một cách nôm na rằng: Tuyển mộ là tập trung các ứng viên lại, còn tuyển chọn là quyết định xem trong số các ứng cử viên, ai là người hội đủ các tiêu chuẩn để làm việc cho tổ chức.
Căn cứ của công tác tuyển dụng a) Kế hoạch hóa nguồn nhân lực Kế hoạch hóa nguồn nhân lực là quá trình đánh giá, xác định nhu cầu về nguồn nhân lực để đáp ứng mục tiêu công việc của công ty và xây dựng các kế hoạch lao động để đáp ứng được các nhu cầu đó. Dự báo nhu cầu nguồn nhân sự là một công việc quan trọng nhất trong kế hoạch hóa nguồn nhân lực. Hoạt động này được tiến hành trên cơ sở tính theo tiêu chuẩn định mức, dựa trên khối lượng công việc phải làm và kế hoạch phát triển thị trường, cán bộ nhân sự sẽ đưa ra định mức nhân sự. Trên cơ sở đó, nhu cầu nhân sự từng thời kỳ được xác định dựa trên các yếu tố sau: 7 - Dự báo nhu cầu biến động nhân sự trong vòng 06 tháng tiếp theo.
- Nhu cầu mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh của một công ty. - Nhân sự dự phòng sẵn sàng làm việc khi khối lượng công việc tăng lên. - Ngoài ra nhu cầu nhân sự còn được dự báo dựa trên nhu cầu nhân sự của từng phòng ban trong công ty. b) Phân tích công việc Phân tích công việc là quá trình thu thập các tư liệu và đánh giá một cách có hệ thống các thông tin quan trọng có liên quan đến các công việc cụ thể trong một công ty nhằm làm rõ bản chất của từng công việc.
Công việc này cần nghiên cứu để làm rõ: ở từng công việc cụ thể thì người lao động cần thực hiện những nhiệm vụ, trách nhiệm gì, họ làm những hoạt động nào, tại sao phải thực hiện và thực hiện như thế nào.