CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÀNH THỦY SẢN 1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ NGÀNH THỦY SẢN 1. Khái niệm về ngành thủy sản Theo Wikipedia, thủy sản là một thuật ngữ chỉ chung về những nguồn lợi, sản vật đem lại cho con người từ môi trường nước và được con người khai thác, nuôi trồng thu hoạch sử dụng làm thực phẩm, nguyên liệu hoặc bày bán trên thị trường. Trong các loại thủy sản, thông dụng nhất là hoạt động đánh bắt, nuôi trồng và khai thác các loại cá.
Hoạt động thủy sản là việc tiến hành khai thác, nuôi trồng, vận chuyển thủy sản khai thác; bảo quản, chế biến, mua bán, xuất nhập khẩu thủy sản; dịch vụ trong hoạt động thủy sản, điều tra, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản. Theo tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), nuôi trồng thủy sản là nuôi các thủy sinh vật trong môi trường nước ngọt và lợ/mặn, bao gồm áp dụng các kỹ thuật vào quy trình nuôi nhằm nâng cao năng suất thuộc sở hữu cá nhân hay tập thể. Trong đó, nguồn lợi thủy sản là tài nguyên sinh vật trong vùng nước tự nhiên, có giá trị kinh tế và khoa học. Ðất để nuôi trồng thủy sản là đất có mặt nước nội địa, bao gồm ao, hồ, đầm, phá, sông, ngòi, kênh, rạch; đất có mặt nước ven biển; đất bãi bồi ven sông, ven biển; bãi cát, cồn cát ven biển; đất sử dụng cho kinh tế trang trại; đất phi nông nghiệp có mặt nước được giao, cho thuê để nuôi trồng thủy sản.
Canh tác có thể thực hiện ở ngay các vùng ven biển, chẳng hạn như với các trang trại hàu, nhưng hiện này vẫn thường canh tác trong vùng nước nội địa, trong các hồ, bể chứa và các hình thức khác. Hầu hết các thủy sản là động thực vật hoang dã, nên có thể định nghĩa hoạt động khai thác thủy sản là việc khai thác nguồn lợi thủy sản trên biển, sông, hồ, đầm, phá và các vùng nước tự nhiên khác. Gần 90% của ngành thủy sản của thế giới được khai thác từ biển và đại dương, so với sản lượng thu được từ các vùng nước nội địa. Theo quan điểm của Liên minh châu Âu, tất cả các sản phẩm được liệt kê trong Chương III và chương XVI trong hệ thống thuế HS CODE có thể kể đến như sau: 6 Bảng 1.1 Thống kê các mặt hàng thủy sản phân loại theo mã HS Mã HS Tên sản phẩm 03.02 Cá, tươi hoặc ướp lạnh, trừ filê cá (fillets) và thịt cá khác thuộc nhóm 03.03 Cá đông lạnh, trừ filê cá (fillets) và các loại thịt cá khác thuộc nhóm 03.04 Filê cá (fillets) và các loại thịt cá khác (băm hoặc không băm), tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh 03.05 Cá sấy khô, muối hoặc ngâm nước muối; cá hun khói, đã hoặc chưa làm chín trước hoặc trong quá trình hun khói; bột mịn, bột thô và bột viên từ cá, thích hợp dùng làm thức ăn cho người 03.06 Động vật giáp xác, đã hoặc chưa bóc mai, vỏ, sống, tươi, ướp lạnh, đông lạnh, sấy khô, muối hoặc ngâm nước muối; động vật giáp xác chưa bóc mai, vỏ, đã hấp chín hoặc luộc chín trong nước, đã hoặc chưa ướp lạnh, đông lạnh, sấy khô, muối hoặc ngâm nước muối; bột thô, bột mịn và bột viên của động vật giáp xác, thích hợp dùng làm thức ăn cho người 03.07 Động vật thân mềm, đã hoặc chưa bóc mai, vỏ, sống, tươi, ướp lạnh, hoặc đông lạnh, sấy khô, muối hoặc ngâm nước muối; các loại động vật thuỷ sinh không xương sống, trừ động vật giáp xác hoặc thân mềm, sống, tươi, ướp lạnh, đông lạnh, sấy khô, muối hoặc ngâm nước muối; bột thô, bột mịn và bột viên của động vật thuỷ sinh không xương sống, trừ động vật giáp xác, thích hợp dùng làm thức ăn cho con người 16.03 Phần chiết và nước ép từ thịt, cá, hoặc từ động vật giáp xác, động vật thân mềm hoặc động vật thuỷ sinh không xương sống khác 16.04 Cá đã được chế biến hay bảo quản; trứng cá muối và sản phẩm thay thế trứng cá muối chế biến từ trứng cá 7 16.05 Động vật giáp xác, động vật thân mềm và động vật thuỷ sinh không xương sống khác, đã được chế biến hoặc bảo quản Nguồn: Trade map.
Đặc điểm mặt hàng thủy sản Thuỷ sản là một ngành kinh tế kỹ thuật đặc trưng gồm các lĩnh vực khai thác, nuôi trồng, chế biến, cơ khí hậu cần, dịch vụ thương mại. Sản xuất kinh doanh thuỷ sản dựa trên khai thác có hiệu quả lâu bền nguồn lợi thuỷ sinh, tiềm năng các vùng nước. Do vậy có mối liên hệ ngành với sản xuất nông nghiệp, vận tải, du lịch công nghiệp chế biến. Ngành thuỷ sản được xác định giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam.
Ngành khai thác và phát triển một trong những nguồn tài nguyên có thể tái sinh quan trọng của đất nước, những tài nguyên với tiềm năng có thể đóng góp lớn cho các mục tiêu lớn về tài chính, về công ăn việc làm và về dinh dưỡng cho con người. Xét một cách tổng thể thì ngành thuỷ sản có những đặc điểm sau: Ngành thuỷ sản là ngành vừa mang tính nông nghiệp, công nghiệp, thương mại lại vừa chịu sự chi phối rất lớn của thiên nhiên. Vì hoạt động nuôi trồng có nhiều đặc điểm bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tự nhiên như: đối với mỗi đối tượng nuôi trồng, các giai đoạn sinh trưởng, phát triển diễn ra trong các khoảng thời gian khác nhau của mùa vụ sản xuất đòi hỏi thời gian, hình thức và mức độ tác động trực tiếp của con người tới chúng khác nhau; cùng một đối tượng nuôi trồng thủy sản nhưng ở những vùng có điều kiện khí hậu thời tiết khác nhau thường có mùa vụ sản xuất khác nhau; các đối tượng nuôi trồng thủy sản khác nhau có mùa vụ sản xuất khác nhau. Ngành thuỷ sản là ngành sản xuất có liên quan đến việc sử dụng diện tích mặt nước cũng như khai thác các sản phẩm có liên quan đến mặt nước.
Dù là hoạt động nuôi trồng hay đánh bắt thì ngành thủy sản thường phát triển ở các vùng trong nước từ đồng bằng, trung du, miền núi cho đến các vùng ven biển, ở đâu có đất đai diện tích mặt nước là ở đó có thể phát triển được: từ hồ ao sông ngòi đến đầm phá eo. Mỗi vùng có điều kiện địa hình, khí hậu, thời tiết khác nhau, do đó dẫn tới sự khác nhau về đối tượng của ngành. 8 Ngành thuỷ sản là ngành có năng suất và hiệu quả lao động tự nhiên cao, có tác dụng tài sản xuất mở rộng. Có nhiều thành phần kinh tế tham gia sản xuất đa dạng.
Hơn nữa đây còn là ngành có khả năng thu hồi vốn nhanh có thể thu hoạch được sản phẩm và tiêu thụ trong thời gian ngắn. Các sản phẩm thuỷ sản có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao, được nhiều người nhiều nơi trong và ngoài nước ưa chuộng. Ngành thủy sản là ngành có nguồn tài nguyên phong phú với trữ lớng lớn, tạo khả năng khai thác với quy mô lớn và con người có thể tái tạo nguồn tài nguyên này. Những năm gần đây, các tỉnh thuộc vùng duyên hải Việt Nam đã áp dụng cách thức “đào ao, cải tạo ruộng” để tiến hành khai thác tổng hợp.
Những bãi bồi ven biển và những vùng đất trũng phèn sau một số năm được cải tạo đế nuôi trồng thủy sản đã biến thành những đồng ruộng phì nhiêu có thể phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Vai trò của ngành thủy sản đối với nền kinh tế 1. Cung cấp thực phẩm tạo nguồn dinh dưỡng cho mọi người dân Việt Nam Khoảng 50% sản lượng đánh bắt hải sản ở vùng biển Bắc Bộ, Trung Bộ và 40% sản lượng đánh bắt ở vùng biển Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ được dùng làm thực phẩm cho nhu cầu của người dân Việt Nam. Nuôi trồng thuỷ sản phát triển rộng khắp, tới tận các vùng sâu vùng xa, góp phần chuyển đổi cơ cấu thực phẩm trong bữa ăn của người dân Việt Nam, cung cấp nguồn dinh dưỡng dồi dào.
Từ các vùng đồng bằng đến trung du miền núi, tất cả các ao hồ nhỏ đều được sử dụng triệt để cho các hoạt động nuôi trồng thuỷ sản. Trong thời gian tới, các mặt hàng thủy sản sẽ ngày càng có vị trí cao trong tiêu thụ thực phẩm của mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam. Đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm Ngành thuỷ sản là một trong những ngành tạo ra lương thực, thực phẩm, cung cấp các sản phẩm tiêu dùng trực tiếp. Ở tầm vĩ mô, dưới giác độ ngành kinh tế quốc dân, ngành thuỷ sản đã góp phần đảm bảo an ninh lương thực thực phẩm, đáp ứng được yêu cầu cụ thể là tăng nhiều đạm và vitamin cho thức ăn.
Có thể nói ngành thuỷ sản đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho người dân, không những thế ngành còn tạo cơ hội công ăn việc làm cho nhiều cộng đồng người dân, đặc biệt ở những vùng nông thôn và vùng ven biển. Những năm gần đây, công tác khuyến ngư đã tập trung vào hoạt động trình diễn các mô hình khai thác và nuôi trồng 9 thuỷ sản, hướng dẫn người nghèo làm ăn. Hiện tại, mô hình kinh tế hộ gia đình được đánh giá là đã giải quyết cơ bản công ăn việc làm cho ngư dân ven biển. Bên cạnh đó, mô hình kinh tế tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân đã góp phần giải quyết việc làm cho nhiều lao động ở các vùng, nhất là lao động nông nhàn ở các tỉnh Nam Bộ và Trung Bộ.
Xóa đói giảm nghèo Ngành thuỷ sản đã lập nhiều chương trình xóa đói giảm nghèo bằng việc phát triển các mô hình nuôi trồng thuỷ sản đến cả vùng sâu, vùng xa, không những cung cấp nguồn dinh dưỡng, đảm bảo an ninh thực phẩm mà còn góp phần xoá đói giảm nghèo. Tại các vùng duyên hải, nuôi thuỷ sản nước lợ đã chuyển mạnh từ phương thức nuôi quảng canh sang quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh, thậm chí nhiều nơi đã áp dụng mô hình nuôi thâm canh theo công nghệ nuôi công nghiệp. Các vùng nuôi tôm rộng lớn, hoạt động theo quy mô sản xuất hàng hoá lớn đã hình thành, một bộ phận dân cư các vùng ven biển đã giàu lên nhanh chóng, rất nhiều gia đình thoát khỏi cảnh đói nghèo nhờ nuôi trồng thuỷ sản. Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản ở các mặt nước lớn như nuôi cá hồ chứa cũng đã phát triển, hoạt động này luôn được gắn kết với các chương trình phát triển trung du miền núi, các chính sách xoá đói giảm nghèo ở vùng sâu vùng xa.