chương I Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông [12] 19 thực hiện cơ chế tự vay tự trả, thu hút nguồn vốn trong và ngoài nước, tổng giá trị tài sản đạt khoảng 60.000 tỷ đồng; mạng viễn thông hiện có 14 triệu thuê bao, với 100% xã có điện thoại, đưa mật độ điện thoại đạt trên 16 máy/100 dân, vượt chỉ tiêu Đại hội IX của Đảng đề ra cho năm 2005 là từ 7-8 máy/100 dân 2. Ngày 09/01/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 06/2006/QĐ-TTg Về việc thành lập công ty mẹ - Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (tên giao dịch quốc tế: Vietnam Posts and Telecommunications Group, tên viết tắt: VNPT). VNPT có trách nhiệm kế thừa các quyền và nghĩa vụ hợp pháp của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam theo quy định của pháp luật. VNPT là một tập đoàn có quy mô lớn, kinh doanh đa ngành, trong đó bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin là ngành kinh doanh chính được chuyên môn hóa cao, có sự tham gia rộng rãi của các thành phần kinh tế trong và ngoài nước.
Các lĩnh vực kinh doanh sẽ được chuyển liên kết theo kiểu hành chính với cơ chế giao vốn trước đây sang liên kết theo mô hình công ty mẹ - công ty con. Công ty mẹ gồm các bộ phận quản lý đường trục trong nước, quốc tế; bộ phận quản lý, đầu tư kinh doanh vốn; các cơ quan quản lý điều phối chức năng 3. Các Tổng Công ty Viễn thông vùng I, II và III là công ty con do Công ty mẹ sở hữu 100% vốn. Với sự đổi mới này, với quy mô quản lý hợp lý hơn sẽ nâng cao năng lực cạnh tranh của các Tổng Công ty Viễn thông.
Cơ bản nhất là thay đổi về hình thức tổ chức quản lý phù hợp với công nghệ mới, không phụ thuộc vào địa giới hành chính, tối ưu hóa mạng lưới, thực hiện quản lý tập trung có hiệu quả; nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ do tính chuyên môn hóa cao trong cả quản lý lẫn trong dây chuyền sản xuất; tạo điều kiện cho cá nhân, đơn vị phát huy khả năng, tính năng chủ động và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của từng đơn vị trong Tập đoàn. Từ đó, chất lượng dịch vụ sẽ được nâng cao, năng lực mạng lưới cũng như công tác chăm sóc khách hàng được thực hiện tốt hơn. 2 Nguồn: VNPT, xin tham khảo biểu đồ phát triển điện thoại của VNPT giai đoạn 1995–2006, trang 4 phụ lục 2 3 Xin tham khảo sơ đồ tổ chức Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, trang 1 phụ lục 1 20 Để thực hiện được các vấn đề trên, VNPT phải thay đổi để thích ứng với mô hình sản xuất mới và hội nhập với xu thế phát triển chung của toàn xã hội. Đánh giá về điều này, 84,7% khách hàng tin tưởng vào việc VNPT sẽ phát triển mạnh mẽ trong nền kinh tế hội nhập toàn cầu 4.
Tổng Công ty Viễn thông II là Công ty con của VNPT, kinh doanh chuyên ngành viễn thông và công nghệ thông tin, chủ yếu là dịch vụ điện thoại cố định và các dịch vụ giá trị gia tăng. Tổng Công ty Viễn thông II được thành lập trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại các công ty quản lý mạng viễn thông tại các Bưu điện tỉnh, thành phố từ Bình Thuận đến Cà Mau. Dự kiến, Tổng Công ty Viễn thông II sẽ được chính thức thành lập vào 01/01/2007. Do đó, trong luận văn này chúng tôi sẽ phân tích hoạt động của VNPT trên địa bàn phía Nam làm cơ sở để xây dựng chiến lược phát triển Tổng Công ty Viễn thông II.
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh: Bảng 2.1: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của VNPT trên địa phía Nam từ năm 2001 – 2005: Chỉ tiêu Đơn vị tính 2001 2002 2003 2004 2005 Doanh thu Tỷ đồng 3.520 Năng suất Triệu đồng / 378 385 402 452 475 lao động người Nguồn: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của VNPT [2] Qua bảng 2.1 chúng tôi nhận thấy tốc độ tăng về thuê bao dịch vụ cũng như doanh thu của VNPT trên địa bàn phía Nam qua các năm tương đối ổn định. Tuy nhiên, tốc độ tăng của các chỉ tiêu doanh thu và phát triển thuê bao điện thoại chưa cao, trung bình mỗi chỉ tiêu tăng 5,2% / năm. Ngoài ra, năng suất lao động ngày một tăng cao, do trước đây VNPT hạch toán toàn ngành, năng suất lao động bao gồm cả năng suất của bưu chính và viễn thông, trong đó khối bưu chính với tỷ trọng doanh thu thấp nhưng số lượng lao động cao, làm cho năng suất lao động chung của toàn 4 Kết quả nghiên cứu thị trường của VNPT [8] 21 VNPT chưa cao. Khi VNPT hoạt động theo mô hình mới là mô hình tập đoàn, các đơn vị hạch toán độc lập, chắc chắn rằng năng suất lao động của Tổng Công ty Viễn thông II sẽ tăng cao hơn.
Về thị phần: hiện nay VNPT chiếm 82.95% thị phần điện thoại cố định, 69% thị phần dịch vụ internet gián tiếp, 93% thị phần dịch vụ gọi thẻ VoIP, 90.8% thị phần liên lạc liên tỉnh và 73.8% thị phần liên lạc quốc tế trên địa bàn phía Nam 5. Phân tích các hoạt động của VNPT trên địa bàn phía Nam: 1. Quản trị: Công tác quản trị được chúng tôi đánh giá qua các chức năng như hoạch định, dự báo, tổ chức – hoạt động và kiểm tra.1 Hoạch định: Việc quyết định hoạch định của Tổng Công ty Viễn thông II dựa trên các tiêu chuẩn cụ thể sau đây: - Quy mô hoạt động của doanh nghiệp: phải là đơn vị dẫn đầu về việc cung cấp dịch vụ điện thoại cố định và các dịch vụ giá trị gia tăng, trực thuộc một Tập đoàn có tiềm lực về vốn, công nghệ và con người mạnh là VNPT. - Mục đích hoạt động của Tổng Công ty Viễn thông II phải đồng thời đạt hai mục tiêu cụ thể: hoạt động có lợi nhuận cao và khả năng phục vụ xã hội cao.
Quan tâm đặc biệt đến các chính sách phát triển cộng đồng, phát triển xã hội. Với các căn cứ trên, Tổng Công ty Viễn thông II xác định phải là đơn vị dẫn đầu trong thị trường cung cấp dịch vụ điện thoại cố định so với các đối thủ cạnh tranh trong ngành, hoạt động của doanh nghiệp vừa đảm bảo chỉ tiêu lợi nhuận vừa đảm bảo chất lượng phục vụ cộng đồng, các chính sách hỗ trợ phát triển cho các vùng sâu, vùng xa. Tổng Công ty Viễn thông II không chỉ quan tâm đầu tư phát triển mạng lưới để khai thác dịch vụ tại các khu vực trung tâm mà còn tập trung phát triển tại các khu vực quận huyện thuộc vùng sâu, vùng xa để đảm bảo chủ trương của Chính phủ về việc gia tăng chỉ tiêu máy điện thoại /100 dân. Bên cạnh đó, Tổng Công ty Viễn thông II thực hiện ngầm hóa mạng lưới tại các khu vực trung tâm, các 5 Xin tham khảo trang 7-9 phụ lục 4, mục I-V 22 khu vực có điều kiện ngầm hóa được để đảm bảo chất lượng phục vụ khách hàng cũng như đảm bảo vẻ mỹ quan đô thị của thành phố ngày càng văn minh, hiện đại.
Việc hoạch định vị trí của doanh nghiệp như sau: - Do là ngành cung cấp dịch vụ nên vị trí phải gần khách hàng (thị trường) để có thể đáp ứng tốt nhất chất lượng dịch vụ: o Hệ thống các điểm giao dịch rộng khắp trên phạm vi địa bàn hoạt động để tiện việc giao dịch của khách hàng. o Các đài trạm điện thoại phân bố đồng đều trên địa bàn hoạt động để đảm bảo đủ dung lượng số thiết bị phục vụ khách hàng. o Mạng mạng ngoại vi trải đều trên các tuyến đường, đảm bảo đủ dung lượng cáp phục vụ khách hàng. - Đối với các khu vực vùng sâu, vùng xa mạng cáp hữu tuyến khó thi công tới được do tiêu chuẩn kỹ thuật quy định thì xây dựng các phương án phối hợp sử dụng hệ thống tiếp cận thuê bao (để đảm bảo nhu cầu về số thiết bị) và hệ thống cáp quang (để đảm bảo nhu cầu về truyền dẫn) phục vụ khách hàng.
- Ngoài hệ thống tổng đài hữu tuyến, xây dựng thêm hệ thống điện thoại vô tuyến cố định để phát triển máy điện thoại tại các khu vực quá xa không thể áp dụng các phương thức như trên hoặc các khu vực hẻm sâu không thể kéo cáp.2 Dự báo: Mỗi năm, VNPT đều tổ chức nghiên cứu, dự báo tình hình phát triển thuê bao điện thoại cố định năm sau để có kế hoạch xây dựng mạng lưới, mua sắm thiết bị. Một số nhân tố ảnh hưởng đến việc dự báo nhu cầu của VNPT: - Chất lượng sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp được khách hàng đánh giá như thế nào, đánh giá tình hình báo hư sửa tốt phục vụ khách hàng, tỷ lệ máy hư chiếm bao nhiêu trên toàn mạng, thời gian sửa chữa khắc phục máy cho khách hàng sử dụng. - Thái độ phục vụ khách hàng đã tốt chưa. Hệ thống nhân sự làm công tác giao dịch, tiếp xúc thường xuyên với khách hàng như thế nào.
- Năng suất lao động của doanh nghiệp. 23 - Tình hình kinh tế xã hội: tốc độ đô thị hóa, mức chi tiêu của người dân, tình hình thu nhập của dân chúng, thị hiếu khách hàng. - Tình hình hoạt động của các đối thủ cạnh tranh: đánh giá xem đối thủ cạnh tranh đã có thể cung cấp dịch vụ tại khu vực nào trên phạm vi khu vực mình khai thác, quy mô hoạt động của đối thủ cạnh tranh ra sao. Để đánh giá chất lượng sản phẩm, thái độ phục vụ, VNPT thuê các doanh nghiệp có chuyên môn trong lĩnh vực nghiên cứu thị trường thực hiện.
Hàng năm, VNPT tổ chức hội nghị khách hàng là các khách hàng lớn, trên cơ sở đó thăm dò ý kiến khách hàng về nhu cầu sử dụng các dịch vụ viễn thông để có kế hoạch cải thiện dịch vụ ngày càng tốt hơn, đáp ứng nhu cầu khách hàng. Trên cơ sở phân tích các nhân tố ảnh hưởng như trên, kết hợp với phương pháp dự báo theo đường xu thế, VNPT dự báo nhu cầu phát triển dịch vụ điện thoại cố định trên địa bàn hoạt động cho năm tiếp theo để lập kế hoạch sản xuất. Do đặc thù của ngành Viễn thông là phải quy hoạch hệ thống mạng lưới đồng bộ để có kế hoạch thực hiện các dự án đầu tư phát triển mạng lưới nhưng thời gian thực hiện các dự án đầu tư là khá lâu.