PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nguồn nhân lực đƣợc xem là nguồn tài nguyên quý giá nhất trong quá trình phát triển của xã hội loài ngƣời. Nƣớc ta đang tiến hành công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội thông qua công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Nguồn lực con ngƣời, đặc biệt là nguồn nhân lực KH&CN đóng vai trò là cơ sở, nền tảng quyết định sự thành công của công cuộc CNH, HĐH đất nƣớc.
Trong lĩnh vực Truyền hình vốn đƣợc xem là lĩnh vực sử dụng nhiều chất xám thì nguồn nhân lực KH&CN càng đƣợc xem là yếu tố quan trọng không những đối với nội dung chƣơng trình, mà còn đối với cả quá trình phát triển kỹ thuật sản xuất chƣơng trình và kỹ thuật truyền dẫn phát sóng, đặc biệt là theo xu hƣớng công nghệ truyền hình của các nƣớc tiên tiến. Trong xu hƣớng của truyền hình hiện đại, việc chuyển từ công nghệ tƣơng tự Analog sang công nghệ kỹ thuật số Digital hay đƣợc gọi là số hóa công nghệ truyền hình là một quá trình tất yếu. Hiện tại, Đài Truyền hình Việt Nam, cũng nhƣ một số Đài địa phƣơng và các hãng cung cấp thiết bị kỹ thuật truyền hình đã có nhiều nghiên cứu về lợi ích của số hóa công nghệ truyền hình. Thủ tƣớng chính phủ cũng đã ban hành Quyết định 22/2009/QĐ-TTg ngày 16 tháng 02 năm 2009 Phê duyệt Quy hoạch truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình đến năm 2020 đã đƣa ra mốc thời gian đến 2020 phải chuyển sang truyền dẫn phát sóng truyền hình bằng công nghệ số.
Các nghiên cứu, cũng nhƣ văn bản pháp quy đã tạo hành lang pháp lý và giải pháp để đẩy nhanh việc phát triển công nghệ truyền hình số ở nƣớc ta. Tuy nhiên, các giải pháp chủ yếu tập trung vào vấn đề kỹ thuật và tài chính, còn giải pháp về nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực KH&CN cho quá trình số hóa công nghệ truyền hình chƣa đƣợc nghiên cứu một cách nghiêm túc. VTV9 là kênh truyền hình non trẻ trong hệ thống kênh truyền hình phủ sóng cả nƣớc của Đài Truyền hình Việt Nam, chính thức phát sóng từ ngày 9 z 8/10/2007. Kênh VTV9 do Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh sản xuất và kiểm duyệt nội dung, cũng nhƣ truyền dẫn và phát sóng.
Sau hơn 05 năm phát sóng, kênh truyền hình này đã có những bƣớc phát triển vƣợt bật, đã trở thành một trong năm kênh truyền hình đƣợc yêu thích nhất tại Việt Nam (theo số liệu của Công ty điều tra chỉ số thị trƣờng TMS Hồng Kông). Tuy nhiên, ra đời sau nhƣng muốn phát triển nhanh và bền vững thì việc phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực KH&CN đƣợc xem là yếu tố mang tính quyết định. Nguồn nhân lực này không những góp phần xây dựng thƣơng hiệu kênh, mà còn góp phần quan trọng đẩy nhanh quá trình chuyển đổi từ công nghệ tƣơng tự Analog sang công nghệ truyền hình số Digital theo xu hƣớng của truyền hình hiện đại. Tuy nhiên, xuất phát từ yếu tố chủ quan và khách quan, đến nay VTV9 vẫn chƣa có chiến lƣợc phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực KH&CN cho việc số hóa công nghệ truyền hình nói riêng.
Xuất phát từ những vấn đề trên đã gợi mở cho ngƣời viết ý tƣởng lựa chọn đề tài nghiên cứu : “Định hƣớng chiến lƣợc phát triển nguồn nhân lực KH&CN của VTV9 theo hƣớng số hóa công nghệ truyền hình” với mong muốn góp phần giải quyết những vấn đề cả về lý thuyết và thực tiễn trong việc phát triển nguồn nhân lực KH&CN trên lĩnh vực truyền hình và số hóa công nghệ truyền hình cho VTV9 nói riêng, Đài THVN và ngành truyền hình Việt Nam nói chung. Ý nghĩa lý luận của đề tài Đề tài này đƣợc nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ về phƣơng diện lý luận về khái niệm nguồn nhân lực KH&CN trong lĩnh vực tuyền hình, số hóa công nghệ truyền hình, chuyên môn hóa truyền hình và tầm quan trọng của nguồn nhân lực KH&CN trong quá trình số hóa công nghệ truyền hình. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ phục vụ thiết thực vào chiến lƣợc phát triển nguồn nhân lực để VTV9 thực hiện số hóa công nghệ truyền hình, đồng góp những giải pháp đƣợc đƣa ra sẽ có tác dụng thiết thực đối với VTV9 trƣớc 10 z yêu cầu phát triển bền vững theo xu thế truyền hình hiện đại. Kết quả nghiên cứu cũng sẽ phần quan trọng vào việc hoàn thiện định hƣớng và cơ chế chính sách phát triển nguồn nhân lực KH&CN đối với toàn hệ thống của Đài THVN, phục vụ đắc lực cho quá trình số hóa công nghệ truyền hình ở nƣớc ta.
Những luận cứ khoa học và thực tiễn đƣợc trình bày sẽ đƣợc bổ sung làm tài liệu tham khảo vốn ít ỏi trong nghiên cứu, giảng dạy khối kiến thức về lĩnh vực báo chí truyền hình. Đây cũng sẽ là cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo để xây dựng nên giáo trình giảng dạy cho lĩnh vực kỹ thuật và nội dung báo chí truyền hình theo hƣớng số hóa, thay cho giáo trình theo công nghệ Analog nhƣ hiện nay. Những giải pháp, đề xuất, khuyến nghị có thể đƣợc tham khảo trong việc xây dựng chiến lƣợc phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho yêu cầu đổi mới công nghệ sản xuất và phát sóng chƣơng trình truyền hình trong giai đoạn mới của các Đài truyền hình địa phƣơng. Lịch sử nghiên cứu Ở các nƣớc, việc nghiên cứu chuyển đổi từ truyền hình tƣơng tự sang truyền hình số đã diễn ra từ rất lâu, và nhiều nghiên cứu kinh nghiệm đã đƣợc rút ra nhƣ: - Chuyển đổi tƣơng tự - bài học từ những kinh nghiệm của Châu Âu (Analogue switch-off - Learning from experiences in Europe) của tổ chức DigiTAG xuất bản năm 2008 [13].
- Những bài học từ chuyển đổi số tại Hàn Quốc (Lessons from Digital Switchover in South Korea) của tác giả Hyunsun Yoon năm 2012 [9]. Bên cạch các nghiên cứu kinh nghiệm trên, không ít những nghiên cứu đánh giá và đề xuất giải pháp cho việc số hóa tại các nƣớc nhƣ Chuyển đổi tƣơng tự tại Singapore (Digital Switchover in Singapore) của Ling Pek Ling (12/7/2012) [11] và tƣơng tự tại Nhật [12]. Trong các nghiên cứu này, chủ yếu chỉ ra về mặt chuyển đổi thiết bị, cơ sở hạ tầng tại các nƣớc và bài học kinh nghiệm đƣa ra mà rất ít đề cập đến việc phát triển nhân lực KH&CN cho quá trình này. Tại nƣớc ta, cũng đã có một số tác giả đã nghiên cứu về truyền hình nhƣ các báo cáo của Đài truyền hình Việt Nam 11 z [1][2][3].
Về vấn đề nhân lực truyền hình có thể nói gần đây nhất là luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Điệp (2012) - Đào tạo nguồn nhân lực tại trung tâm điện toán và truyền số liệu khu vực 3 - Đại học Đà Nẵng, Đà Nẵng [5]. Mặc dù đã có những đề tài về nhân lực và quá trình chuyển đổi số hóa cũng nhƣ các quyết định quan trọng của trong quy hoạch số hóa và chiến lƣợc của Việt Nam đến 2020 [6][7][8]. Nhƣng hầu nhƣ không có bất kỳ nghiên cứu nào về nguồn nhân lực KH&CN trong lĩnh vực truyền hình, đặc biệt, nghiên cứu về nguồn nhân lực KH&CN cho quá trình chuyển đổi sang số hóa công nghệ truyền hình. Chính vì thế, việc thực hiện đề tài “Định hƣớng chiến lƣợc phát triển nguồn nhân lực KH&CN của VTV9 theo hƣớng số hóa công nghệ truyền hình” mang lại nhiều ý nghĩa quan trọng.
Ngƣời viết sẽ kế thừa những kết quả nghiên cứu về nguồn lực con ngƣời và nguồn nhân lực KH&CN ở các lĩnh vực khác để đƣa ra một hƣớng tiếp cận phù hợp vào lĩnh vực truyền hình, đồng thời ứng dụng những kết quả nghiên cứu của nƣớc ngoài có điều kiện tƣơng đồng một cách có chọn lọc vào điều kiện thực tế của việc số hóa công nghệ truyền hình ở nƣớc ta. Mục tiêu nghiên cứu Đề xuất định hƣớng chiến lƣợc phát triển nguồn nhân lực KH&CN để thúc đẩy quá trình chuyển đổi sang công nghệ truyền hình số ở VTV9. Với mục tiêu trên, trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài sẽ tập trung giải quyết các nhiệm vụ cụ thể chủ yếu sau đây : + Khảo sát, đánh giá, phân tích hiện trạng về nguồn nhân lực KH&CN và định hƣớng chiến lƣợc phát triển nguồn nhân lực KH&CN phục vụ cho số hóa công nghệ truyền hình của VTV9. + Đƣa ra cơ sở lý luận về mối liên hệ giữa nguồn nhân lực KH&CN và quá trình số hóa công nghệ truyền hình, chứng minh tính then chốt của nguồn nhân lực KH&CN đƣợc chuyên môn hóa đối với quá trình số hóa công nghệ truyền hình.
12 z + Định hƣớng chiến lƣợc phát triển nguồn nhân lực KH&CN và đề xuất một số chính sách để phát triển nguồn nhân lực KH&CN. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nội dung: Tập trung đánh giá và chứng minh tính then chốt của nguồn nhân lực KH&CN đối với quá trình số hóa công nghệ truyền hình, đề xuất định hƣớng chiến lƣợc và chính sách phát triển nguồn nhân lực KH&CN, cũng nhƣ thúc đầy quá trình chuyển đổi từ công nghệ Analog sang công nghệ truyền hình kỹ thuật số ở VTV9. Phạm vi về thời gian: Từ năm 2007 khi VTV9 bắt đầu phát sóng đến mốc thời gian năm 2020 khi phải chuyển sang truyền dẫn và phát sóng truyền hình bằng công nghệ số theo Quyết định 22/2009/QĐ-TTg ngày 16 tháng 02 năm 2009 của Thủ tƣớng Chính phủ “Phê duyệt Quy hoạch truyền dẫn, phát sóng phát thanh, truyền hình đến năm 2020”. Mẫu khảo sát + Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, ngƣời viết sẽ tiến hành khảo sát tập trung chủ yếu ở VTV9, đồng thời có thể mở rộng khảo sát ở các đơn vị có điều kiện tƣơng tự trong hệ thống của Đài THVN.
+ Để đáp ứng yêu cầu tiếp thu kinh nghiệm và nắm đƣợc xu thế phát triển của công nghệ truyền hình, ngƣời viết cũng sẽ khảo sát thực tế một số Đài Truyền hình trong khu vực và trên thế giới đã số hóa thành công hoặc đang trong quá trình chuyển đổi sang công nghệ truyền hình kỹ thuật số có nhiều điểm tƣơng đồng với điều kiện của ngành truyền hình Việt Nam nói chung và VTV9 nói riêng. Câu hỏi nghiên cứu Trong nghiên cứu này, vấn đề đƣợc tập trung nghiên cứu là “Định hƣớng chiến lƣợc phát triển nguồn nhân lực KH&CN để VTV9 số hóa công nghệ truyền hình theo hƣớng nào ?” Trong đó có các vấn đề cụ thể : + Định hƣớng chiến lƣợc tuyển dụng và đào tạo lại nguồn nhân lực KH&CN phục vụ cho số hóa công nghệ truyền hình theo hƣớng nào ?