CHƯƠNG I: HỆ THỐNG CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC 1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ CHIẾN LƯỢC VÀ QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC 1.1 Khái niệm về chiến lược Bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Strategos”, “Chiến lược” là thuật ngữ được dùng trước tiên trong lĩnh vực quân sự. Nhà lý luận quân sự thời cận đại Clawzevit cho rằng: Chiến lược quân sự là nghệ thuật chỉ huy các phương tiện để giành chiến thắng. Một xuất bản trước đây của từ điển Larouse cũng cho rằng: Chiến lược là nghệ thuật chỉ huy cao cấp nhằm xoay chuyển tình thế, biến đổi tình trạng so sánh lực lượng quân sự trên chiến trường từ yếu thành mạnh, từ bị động sang chủ động để giành chiến thắng. Như vậy, có nguồn gốc từ trong quân sự, thuật ngữ chiến lược nói chung được quan niệm là một nghệ thuật chỉ huy của bộ phận tham mưu cao nhất nhằm giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh, nó mang tính nghệ thuật nhiều hơn tính khoa học.
Hiện nay cũng có rất nhiều định nghĩa khác nhau của các nhà nghiên cứu kinh tế về chiến lược, nguyên nhân cơ bản có sự khác nhau này là do có các hệ thống quan niệm khác nhau về tổ chức nói chung và các phương pháp tiếp cận khác nhau về chiến lược của tổ chức nói riêng. Có thể chỉ ra một số khái niệm nổi bật cho thuật ngữ này như: Theo Stuart Well: “Chiến lược thực sự là sự định vị những lợi thế cạnh tranh trong tương lai. Đó là mấu chốt. Bất kỳ tư duy chiến lược nào cũng đều phản ánh điều cơ bản này.
Đó là mục đích dẫn dắt chiến lược.” Khái niệm của Stuart Well khá thuyết phục và phong phú. Khái niệm này tập trung vào lợi thế cạnh tranh. Định vị những lợi thế cạnh tranh trong tương lai ám chỉ Nguyễn Đằng Giang 9 Luận văn Thạc sĩ ngành QTKD Hoạch định chiến lược phát triển hệ thống CNTT của Bộ Nội vụ đến năm 2018 những lợi thế cạnh tranh sẽ hao mòn theo thời gian trừ khi được phát triển và củng cố liên tục. Tuy nhiên, chỉ có một mục đích – mục đích chính – của chiến lược được đưa ra ở đây, đó là chiếm lấy và duy trì lợi thế cạnh tranh.
Porter: Xuất phát từ cách tiếp cận cạnh tranh giáo sư nổi tiềng về chiến lược kinh doanh của trường Đại học Harvard Michael L. Porter cho rằng “chiến lược kinh doanh là nghệ thuật xây dựng lợi thế cạnh tranh vững chắc và phòng thủ” và năm 1996 ông đã phát biểu trong những quan niệm của mình về chiến lược qua bài báo “Chiến lược là gì?” Thứ nhất, chiến lược là sự sáng tạo ra vị thế có giá trị và độc đáo bao gồm các hoạt động khác biệt. Thứ hai, chiến lược là sự lựa chọn, đánh đổi trong cạnh tranh Thứ ba, chiến lược là việc tạo ra sự phù hợp giữa tất cả các hoạt động của tổ chức. Theo Alfred Chandler (1962): “Chiến lược là việc xác định các mục tiêu cơ bản và dài hạn của tổ chức, lựa chọn các chính sách, chương trình hành động nhằm phân bổ các nguồn lực để đạt được các mục tiêu cơ bản đó”.
Theo Jonhson và Scholes, chiến lược được định nghĩa như sau: “Chiến lược là việc xác định định hướng và phạm vi hoạt động của một tổ chức trong dài hạn, ở đó tổ chức phải giành được lợi thế thông qua việc kết hợp các nguồn lực trong một môi trường nhiều thử thách, nhằm thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của thị trường và đáp ứng mong muốn của các tác nhân có liên quan đến tổ chức”. Theo định nghĩa này chiến lược của một doanh nghiệp được hình thành để trả lời các câu hỏi sau: - Hoạt động kinh doanh sẽ diễn ra ở đâu trong dài hạn. - Hoạt động kinh doanh sẽ cạnh tranh trên thị trường sản phẩm nào và phạm vi các hoạt động. - Bằng cách nào hoạt động kinh doanh được tiến hành tốt hơn đối thủ cạnh tranh.
- Nguồn lực cần thiết tạo ra lợi thế cạnh tranh. - Các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài tác động đến khả năng cạnh tranh của Doanh nghiệp. Nguyễn Đằng Giang 10 Luận văn Thạc sĩ ngành QTKD Hoạch định chiến lược phát triển hệ thống CNTT của Bộ Nội vụ đến năm 2018 Theo James B. Quinn cho rằng “Chiến lược kinh doanh đó là một dạng thức hay một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và các chương trình hành động thành một tổng thể kết dính lại với nhau”.
Gluek: “Chiến lược kinh doanh là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp được thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của tổ chức sẽ được thực hiện”. Chiến lược là những quyết định, những hành động hoặc những kế hoạch liên kết để đề ra và thực hiện những mục tiêu của một tổ chức. Chiến lược được xem là tập hợp những quyết định và hành động hướng mục tiêu để các năng lực và nguồn lực của tổ chức đáp ứng được những cơ hội và thách thức từ bên ngoài. Chiến lược như là một mô hình, vì ở một khía cạnh nào đó, chiến lược của một tổ chức phản ánh cấu trúc, khuynh hướng mà người ta dự định trong tương lai.
Chiến lược còn được xem như là một triển vọng, quan điểm này muốn đề cập đến sự liên quan đến chiến lược với những mục tiêu cơ bản, vị thế chiến lược và triển vọng tương lai của nó. Như vậy có thể khái quát: Chiến lược kinh doanh của tổ chức là một nghệ thuật thiết kế, tổ chức các phương tiện nhằm đạt được các mục tiêu dài hạn của tổ chức với việc phân bổ nguồn lực nhằm tạo một lợi thế cạnh tranh tốt nhất cho tổ chức. Một chiến lược kinh doanh tốt là chiến lược trong đó tổ chức có thể chiếm được lợi thế chắc chắn so với đối thủ cạnh tranh với chi phí có thể chấp nhận được. Tìm kiếm một cách thức hành động là nhiệm vụ cụ thể của nhà chiến lược.
Phương pháp thông thường mà các tổ chức chuẩn bị chiến lược được gọi là kế hoạch hóa chiến lược hay hoạch định chiến lược. Hoạch định chiến lược kinh doanh giúp các tổ chức đạt được mục tiêu trước mắt và lâu dài, tổng thể và bộ phận, là một điều hết sức quan trọng và cần thiết. Mục đích của việc hoạch định chiến lược là “dự kiến tương lai trong hiện tại”. Dựa vào việc hoạch định chiến lược, các nhà quản lý có thể lập các kế hoạch cho những năm tiếp theo.
Tuy nghiên quá trình đó Nguyễn Đằng Giang 11 Luận văn Thạc sĩ ngành QTKD Hoạch định chiến lược phát triển hệ thống CNTT của Bộ Nội vụ đến năm 2018 phải có sự kiểm soát chặt chẽ, hiệu chỉnh trong từng bước đi. Một chiến lược vững mạnh luôn cần đến khả năng điều hành linh hoạt, sử dụng được các nguồn lực vật chất, tài chính và con người thích ứng. Hoạch định chiến lược thường xác định rõ những mục tiêu cơ bản, những phương hướng hành động của từng tổ chức trong từng thời kỳ, và được quán triệt một cách đầy đủ trong tất cả các hoạt động của tổ chức nhằm đảm bảo cho tổ chức đó phát triển liên tục và bền vững. Chiến lược đảm bảo huy động tối đa, kết hợp tối đa việc khai thác và sử dụng nguồn lực của tổ chức trong hiện tại và tương lai, phát huy những lợi thế và nắm bắt cơ hội để giành ưu thế trên thương trường.
Và phải được phản ánh trong suốt một quá trình liên tục từ việc hình thành chiến lược, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá và điều chỉnh chiến lược. Chiến lược luôn được lựa chọn và thực thi dựa trên cơ sở lợi thế so sánh của tổ chức. Điều này đòi hỏi các tổ chức phải đánh giá đúng thực trạng hoạt động của mình. Chiến lược trước hết chủ yếu cho các nhiệm vụ, hoạt động chuyên môn của tổ chức, các thế mạnh của tổ chức đó có.
Điều đó đặt tổ chức vào thế phải lựa chọn và thực thi chiến lược cũng như tham gia các hoạt động chuyên môn và có thế mạnh. Có thể dễ nhận thấy rằng đặc trưng nổi bật nhất của chiến lược là tính định hướng và xác định những giải pháp, chính sách lớn ở những mục tiêu chủ yếu. Cùng với kế hoạch, tính cân đối định hướng là chủ đạo, tất cả các mục tiêu đều được lượng hóa, liên kết với nhau thành một hệ thống chi tiêu phản ánh toàn diện hoạt động của tổ chức. Tuy nhiên, rất dễ nhầm lẫn giữa chiến lược với các kế hoạch dài hạn vì chúng cũng được lập ra trong một thời kỳ tương đối dài, đó là các kế hoạch 5 năm, kế hoạch 10 năm.
Sự khác nhau giữa chiến lược và kế hoạch dài hạn là phương pháp, trong khi các kế hoạch dài hạn chủ yếu trên cơ sở phân tích nguồn lực “có dự đoán tương lai” để đề ra các giải pháp sử dụng các nguồn lực đó nhằm đạt tới mục tiêu mong muốn, sau đó mới tiến hành sử dụng các nguồn lực cần thiết để đạt tới mục tiêu đó. Nguyễn Đằng Giang 12 Luận văn Thạc sĩ ngành QTKD Hoạch định chiến lược phát triển hệ thống CNTT của Bộ Nội vụ đến năm 2018 Tóm lại, có thể có nhiều cách nhìn khác nhau về khái niệm chiến lược nhưng có thể khái quát lại chiến lược chính là bao hàm các nội dung sau: - Nơi mà tổ chức cố gắng vươn tới trong dài hạn (phương hướng); - Tổ chức phải cạnh tranh trên thị trường nào và những loại hoạt động nào tổ chức thực hiện trên thị trường đó (thị trường, quy mô); - Tổ chức sẽ làm thế nào để hoạt động tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh trên những thị trường đó (lợi thế); - Những nguồn lực nào (kỹ năng, tài sản, tài chính, các mối quan hệ, năng lực kỹ thuật, trang thiết bị) cần phải có để có thể cạnh tranh được (các nguồn lực); - Những nhân tố từ môi trường bên ngoài ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của tổ chức (môi trường); - Những giá trị và kỳ vọng nào mà những người có quyền hành trong và ngoài tổ chức cần là gì (các nhà góp vốn).2 Phân loại chiến lược Có nhiều cách phân loại chiến lược: Nếu căn cứ vào phạm vi của chiến lược, người ta chia chiến lược thành 02 loại: Loại thứ nhất: chiến lược chung hay còn gọi là chiến lược tổng quát. Chiến lược chung của tổ chức hay tổ chức thường đề cập đến những vấn đề quan trọng nhất, bao trùm nhất và có ý nghĩa lâu dài. Chiến lược chung quyết định những vấn đề sống còn của tổ chức.
Loại thứ hai: chiến lược bộ phận. Đây là chiến lược cấp hai.