CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP QUẬN, HUYỆN 1. Khái niệm công chức cấp huyện Tại Khoản 3, Điều 4, Luật cán bộ, công chức 2008 quy định: “Công chức cấp quận, huyện là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp quận, huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Công chức cấp quận, huyện gồm các chức danh: Trưởng công an; Chỉ huy trưởng quân sự; Văn phòng - Thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường; Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - quận, huyện. Ngoài ra, công chức cấp quận, huyện còn bao gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp quận, huyện.
Chất lượng đội ngũ công chức cấp huyện Theo tác giả Mai Quốc Chánh và tác giả Trần Xuân Cầu, chất lượng công chức có thể được hiểu như sau: “Chất lượng công chức là trạng thái nhất định của công chức thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành bên trong của công chức” [4, tr.18] Theo tác giả Nguyễn Cúc: chất lượng công chức trong cấp quận, huyện là: “mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của công chức với yêu cầu công việc của cấp quận, huyện và đảm bảo cho cấp quận, huyện thực hiện thắng lợi mục tiêu cũng như thỏa mãn cao nhất nhu cầu của công chức” [11, tr.2] Trong phạm vi khuôn khổ luận văn, tác giả sử dụng khái niệm về chất lượng đội ngũ công chức cấp quận, huyện như sau: là thuật ngữ thể hiện một tập hợp các đánh giá về mức độ đáp ứng, khả năng làm việc của đội ngũ công chức cấp quận, huyện qua các tiêu chí: thể lực, trí lực, tâm lực, cơ cấu lao động của đội ngũ công chức so với yêu cầu công việc cụ thể đặc trưng của cấp quận, huyện. Nội dung nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp quận, huyện 1. Quản lý biên chế và xác định vị trí việc làm Đối với nội dung quản lý biên chế công chức cấp quận huyện phải tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản sau: Một là: Việc quản lý biên chế và xác định việc làm đối với đội ngũ công chức cấp quận, huyện cần tuân thủ các quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và quy định của cơ quan có thẩm quyền của Đảng và nhà nước; Hai là, cần bảo đảm thống nhất, đồng bộ giữa quản lý biên chế với tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức; Ba là, cần kết hợp giữa quản lý biên chế công chức với tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm của công chức; Bốn là, cần đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, bảo đảm biên chế công chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi sử dụng công chức; Năm là, cần tuân thủ nguyên tắc công khai, minh bạch, dân chủ trong quản lý biên chế công chức. Như vậy, có thể thất việc quản lý biên chế cho cán bộ công chức trong từng cơ quan, đơn vị phải dựa vào vị trí việc làm phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của từng cơ quan, tổ chức.
Theo Nghị định số 36/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức, việc xác định vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức được thực hiện theo quy trình sau: 9 Thống kê công việc theo chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Bước 2 - Phân nhóm công việc. Phân chia thành từng nhóm công việc Xác định các yếu tố ảnh hưởng Tổ chức thống kê, đánh giá thực trạng đội ngũ công chức Xác định danh mục vị trí việc làm và phân loại các vị trí việc làm cần có để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức Xây dựng bản mô tả công việc của từng vị trí việc làm Xây dựng khung năng lực cho từng vị trí việc làm Xác định ngạch công chức tương ứng 10 1. Công tác quy hoạch cán bộ Công tác quy hoạch cán bộ công chức là việc phát hiện sớm các nguồn cán bộ trẻ có đức, có tài, có triển vọng về khả năng lãnh đạo, quản lý, để đưa vào quy hoạch, từ đó có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn các chức danh lãnh đạo, quản lý, đáp ứng nhiệm vụ chính trị trước mắt và lâu dài của từng địa phương, cơ quan, đơn vị và của đất nước; Để công tác quy hoạch cán bộ đạt hiệu quả cao, cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau: Một là: Quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý phải xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ chính trị và thực tế đội ngũ cán bộ; phải gắn với các khâu khác trong công tác cán bộ, bảo đảm sự liên thông quy hoạch của cả đội ngũ cán bộ trong hệ thống; Hai là: Phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ chính trị của từng thời kỳ để xác định tiêu chuẩn, cơ cấu đội ngũ cán bộ trong quy hoạch (trình độ, ngành nghề, lĩnh vực công tác, độ tuổi, nam, nữ, dân tộc.); phải nắm chắc đội ngũ cán bộ hiện có, dự báo được nhu cầu cán bộ trước mắt và lâu dài, trên cơ sở đó mới tiến hành lựa chọn, giới thiệu cán bộ vào quy hoạch, đồng thời xây dựng kế hoạch đào tạo bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng cán bộ theo quy hoạch; Ba là: Quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý phải được xây dựng trên cơ sở quy hoạch cấp ủy đảng các cấp, lấy quy hoạch cấp dưới làm cơ sở cho quy hoạch ở cấp trên, bảo đảm sự liên thông, gắn kết giữa quy hoạch của các địa phương, ban, bộ, ngành với nhau; giữa quy hoạch cán bộ lãnh đạo các ban, bộ, ngành, địa phương với quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của mỗi địa phương, ban, bộ, ngành, cơ quan, đơn vị và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; 11 Bốn là: Trước khi đưa cán bộ vào trong diện quy hoạch, phải đánh giá đúng chất lượng nguồn cán bộ đó; Năm là: Đối với cán bộ đảm nhiệm chức danh có quy định một người không giữ chức vụ quá 2 nhiệm kỳ liên tiếp, cần xem xét đưa vào quy hoạch chức vụ khác, hoặc bố trí giữ chức vụ đó ở địa phương, cơ quan, đơn vị khác; Sáu là: Về số lượng nguồn đưa vào quy hoạch cần tuân thủ theo các nguyên tắc sau: (i) Đối với các chức danh lãnh đạo, quản lý, tối thiểu phải quy hoạch 2-3 người vào 01 chức danh; không quy hoạch 01 người cho 01 chức danh; (ii) Không quy hoạch 1 người vào quá 3 chức danh; không quy hoạch 01 chức danh quá 4 người; Bẩy là: Về độ tuổi và cơ cấu cán bộ nữ trong quy hoạch: (i) Cần đưa vào quy hoạch những đồng chí có triển vọng, nhưng phải trẻ tuổi, để có quỹ thời gian cho việc đào tạo, bồi dưỡng về lý luận, chuyên môn, nghiệp vụ và kinh qua thực tiễn lãnh đạo, quản lý ở cấp dưới.
Để đến khi bố trí cán bộ vào chức danh quy hoạch, phải bảo đảm những đồng chí lần đầu tham gia cấp ủy hoặc lần đầu bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử các chức danh lãnh đạo, quản lý phải đủ tuổi công tác từ hai nhiệm kỳ trở lên, ít nhất cũng trọn một nhiệm kỳ (mỗi nhiệm kỳ là 5 năm); (ii) Cần đưa ra khỏi quy hoạch những đồng chí đã có trong quy hoạch nhưng không đủ tuổi bổ nhiệm hoặc ứng cử lần đầu vào chức danh quy hoạch; (iii) Về cơ cấu độ tuổi, cần duy trì nghiêm cơ cấu ba độ tuổi trong quy hoạch cấp ủy và ban lãnh đạo, quản lý các cấp, dãn cách giữa các độ tuổi là 5 năm; (iv) Về tỷ lệ cán bộ nữ: Bảo đảm tỷ lệ cán bộ nữ không dưới 15%; Tám là, công tác quy hoạch cán bộ, công chức cần đảm bảo tính công khai, minh bạch, để có thể tạo cơ hội đồng đều cho mọi người. Tuyển dụng công chức Tuyển dụng công chưc là quá trình bổ sung những người đủ tiêu chuẩn, điều kiện vào đội ngũ công chức. Người được tuyển dụng công chức phải 12 đảm bảo 6 điều kiện sau: (i) Có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam; (ii) Đủ 18 tuổi trở lên; (iii) Có đơn dự tuyển; có lý lịch rõ ràng; (iv) Có văn bằng, chứng chỉ phù hợp; (v) Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; (vi) Có đủ sức khoẻ để thực hiện nhiệm vụ; Về thi tuyển công chức, Theo Nghị định số 138/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức quy định việc thi tuyển công chức được thực hiện qua 2 vòng thi như sau: Vòng 1: Thi kiểm tra kiến thức, năng lực chung, Vòng 2: Thi môn nghiệp vụ chuyên ngành. Cũng theo nghị định này, để thu hút người tài tham gia vào trong hoạt động công vụ, đã quy định thực hiện chế độ xét tuyển với các đối tượng đặc biệt sau: (i) Người cam kết tình nguyện làm việc từ 05 năm trở lên ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; (ii) Người học theo chế độ cử tuyển theo quy định của Luật Giáo dục, sau khi tốt nghiệp về công tác tại địa phương nơi cử đi học; (iii) Sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, nhà khoa học trẻ tài năng.
Về trình tự tuyển dụng công chức, Nghị định số 138/2020/NĐ-CP ngày 27/11/2020 của Chính phủ quy định như sau: Bước 1: Thông báo tuyển dụng và tiếp nhận Phiếu đăng ký dự tuyển tổ chức tuyển dụng Bước 2: Thông báo kết quả tuyển dụng công chức Bước 3: Hoàn thiện hồ sơ tuyển dụng Bước 4: Quyết định tuyển dụng và nhận việc Bước 5: Tiếp nhận vào làm công chức 1. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức thì một trong những nội dung quan trọng đó là công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công chức, Hoạt động đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công chức nhằm: (i) Trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ, công vụ; (ii) Góp phần xây 13 dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp có đủ năng lực xây dựng nền hành chính tiên tiến, hiện đại.