Chương 1: Cơ sở lý luận về đấu thầu và năng lực thắng thầu trong đấu thầu xây lắp của doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng công tác đấu thầu xây lắp của công ty cổ phần xây dựng và thương mại Tâm Trung Thông. Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực thắng thầu trong đấu thầu xây lắp của công ty cổ phần xây dựng và thương mại Tâm Trung Thông. 3 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẤU THẦU VÀ NĂNG LỰC THẮNG THẦU TRONG ĐẤU THẦU XÂY LẮP CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về đấu thầu: 1.1 Khái niệm, bản chất về đấu thầu và đấu thầu xây lắp Khái niệm về đấu thầu Đấu thầu là hình thức tổ chức quá trình cạnh tranh giữa những người bán để nhằm tối đa hoá lợi ích của người mua.
Bản chất đây là quá trình mua và bán có cạnh tranh diễn ra giữa một người mua với nhiều người bán trong trường hợp mà việc xác định tương quan giữa giá cả với số lượng và chất lượng hàng hóa, dịch vụ gặp khó khăn. Khái niệm về đấu thầu xây lắp Theo luật đấu thầu tại Điều 4, mục số 12 “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế”. Theo luật đấu thầu thì nhiều chủ thể tham gia vào quá trình đầu thầu, đó là: Chủ đầu tư, các nhà thầu, cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực đấu thầu. Đứng trên quan điểm của các chủ thể này, có thể hiểu đấu thầu như sau: Đứng trên góc độ chủ đầu tƣ: Thông qua đấu thầu chủ đầu tư tìm được nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của mình ở mức tốt nhất.
Từ đó thực hiện gói thầu trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế”; Đối với nhà thầu: Đây là cơ hội nhà thầu có thể ký được hợp đồng, tổ chức thi công xây lắp, lập dự án, thiết kế, giám sát. nhằm đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Trên phương diện này, có thể đưa ra khái niệm về đấu thầu như sau:“Đấu thầu trong hoạt động xây dựng là hình thức cạnh tranh công khai, minh bạch và công bằng giữa các nhà thầu trong hoạt động xây dựng nhằm giành được các gói thầu, đem lại lợi ích cho nhà thầu, đáp ứng yêu cầu của chủ đầu tư”. [7] 4 Đối với quản lý Nhà nƣớc: Đấu thầu nhằm kích thích và đảm bảo sự cạnh tranh đúng pháp luật, giảm những tiêu cực xảy ra trong quá trình đầu tư xây dựng, đáp ứng được mục tiêu của chủ đầu tư và các nhà thầu, góp phần tăng trưởng kinh tế của đất nước.2 Vai trò, ý nghĩa của hoạt động đấu thầu Vai trò của hoạt động đấu thầu Đối với Nhà nước: đây là phương thức quản lý hiệu quả các dự án có vốn ngân sách Nhà nước, đảm bảo tính cạnh tranh công khai, lành mạnh, công bằng và mang lại hiệu quả kinh tế.
Đối với chủ đầu tư: mang lại hiệu quả về kinh tế, chất lượng sản phẩm và nền kinh tế, xã hội. Đối với các nhà thầu xây dựng: tìm kiếm việc làm, kiếm lợi nhuận trong kinh doanh và tự hoàn thiện mình trong môi trường cạnh tranh quyết liệt. Cụ thể như sau: - Phát huy tối đa tính chủ động; - Hoàn thiện các mặt về tổ chức và quản lý, đào tạo; - Đầu tư có trọng điểm các phương tiện, máy móc, thiết bị kỹ thuật; - Đảm bảo tính ổn định và lành mạnh về tình hình tài chính; - Nâng cao uy tín và thương hiệu của đơn vị. Ý nghĩa của hoạt động đấu thầu: như vậy qua đó có thể thấy đấu thầu đem lại những mặt tích cực cho chủ đầu tư, đem lại những hợp đồng xây dựng cho các đơn vị nhà thầu có cơ hội tìm kiếm lợi nhuận đồng thời về mặt quản lý nhà nước tạo ra hành lang phap lý minh bạch rõ ràng.
Do đó, đấu thầu là phương pháp có hiệu quả cao nhất thực hiện mục tiêu này, đảm bảo cho sự thành công của chủ đầu tư, sự thuận lợi cho nhà thầu và đấu thầu được xem như một phương pháp quản lý dự án có hiệu quả nhất hiện nay trên cơ sở chống độc quyền, tăng cường khả năng cạnh tranh giữa các nhà thầu.3 Quy định chung về đấu thầu Điều kiện phát hành hồ sơ mời thầu - Kế hoạch đấu thầu được duyệt; - Hồ sơ mời thầu được duyệt; - Thông báo mời thầu hoặc danh sách nhà thầu được mời tham gia đấu thầu đã 5 được đăng tải theo quy định tại Luật đấu thầu. Theo luật đấu thầu số 43/2013/QH13 phƣơng thức đấu thầu đƣợc tóm tắt nhƣ sau: Phƣơng thức một giai đoạn một túi hồ sơ - Gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu. - Việc mở thầu được tiến hành một lần đối với toàn bộ hồ sơ dự thầu. - Phạm vi áp dụng: đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn, chào hàng cạnh tranh, chỉ định thầu, mua sắm trực tiếp, chỉ định thầu đối với lựa chọn nhà đầu tư.
Phƣơng thức một giai đoạn hai túi hồ sơ - Gồm hồ sơ đề xuất về kỹ thuật và hồ sơ đề xuất về tài chính riêng biệt theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu. - Việc mở thầu được tiến hành hai lần. Hồ sơ đề xuất về kỹ thuật sẽ được mở ngay sau thời điểm đóng thầu. Nhà thầu đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật sẽ được mở hồ sơ đề xuất về tài chính để đánh giá.
- Phạm vi áp dụng: Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp; Phƣơng thức hai giai đoạn một túi hồ sơ Phạm vi áp dụng: trong trường hợp đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô lớn, phức tạp. Cách thứ tổ chức cho loại hình này: Trong giai đoạn một, nhà thầu nộp đề xuất về kỹ thuật, phương án tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu nhưng chưa có giá dự thầu. Trên cơ sở trao đổi với từng nhà thầu tham gia giai đoạn này sẽ xác định hồ sơ mời thầu giai đoạn hai. Trong giai đoạn hai, nhà thầu đã tham gia giai đoạn một được mời nộp hồ sơ dự thầu.
Hồ sơ dự thầu bao gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu giai đoạn hai, trong đó có giá dự thầu và bảo đảm dự thầu. Phƣơng thức hai giai đoạn hai túi hồ sơ Phương thức hai giai đoạn hai túi hồ sơ được áp dụng trong trường hợp đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có kỹ thuật, công nghệ mới, phức tạp, có tính đặc thù. Trong giai đoạn một, nhà thầu nộp đồng thời hồ sơ đề xuất về kỹ thuật và hồ 6 sơ đề xuất về tài chính riêng biệt theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu. Hồ sơ đề xuất về kỹ thuật sẽ được mở ngay sau thời điểm đóng thầu.
Trên cơ sở đánh giá đề xuất về kỹ thuật của các nhà thầu trong giai đoạn này sẽ xác định các nội dung hiệu chỉnh về kỹ thuật so với hồ sơ mời thầu và danh sách nhà thầu đáp ứng yêu cầu được mời tham dự thầu giai đoạn hai. Hồ sơ đề xuất về tài chính sẽ được mở ở giai đoạn hai. Trong giai đoạn hai, các nhà thầu đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn một được mời nộp hồ sơ dự thầu. Hồ sơ dự thầu bao gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu giai đoạn hai tương ứng với nội dung hiệu chỉnh về kỹ thuật.
Trong giai đoạn này, hồ sơ đề xuất về tài chính đã nộp trong giai đoạn một sẽ được mở đồng thời với hồ sơ dự thầu giai đoạn hai để đánh giá. Bảo đảm dự thầu [7] Khi tham gia đấu thầu gói thầu cung cấp hàng hóa, xây lắp, gói thầu EPC, nhà thầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm dự thầu trước thời điểm đóng thầu. Trường hợp áp dụng phương thức đấu thầu hai giai đoạn, nhà thầu thực hiện biện pháp bảo đảm dự thầu trong giai đoạn hai. Giá trị bảo đảm dự thầu được quy định trong hồ sơ mời thầu theo một mức xác định căn cứ tính chất của từng gói thầu cụ thể nhưng không vượt quá 3% giá gói thầu được duyệt.
Thời gian có hiệu lực của bảo đảm dự thầu bằng thời gian hiệu lực của hồ sơ dự thầu cộng thêm ba mươi ngày. Bảo đảm dự thầu được trả lại cho các nhà thầu không trúng thầu trong thời gian không quá ba mươi ngày kể từ ngày thông báo kết quả đấu thầu. Đối với nhà thầu trúng thầu, bảo đảm dự thầu được hoàn trả sau khi nhà thầu thực hiện biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng theo quy định. Nguyên tắc đánh giá hồ sơ dự thầu [7] Phải căn cứ vào tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu và các yêu cầu khác trong hồ sơ mời thầu để bảo đảm lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực, kinh nghiệm, có giải pháp khả thi để thực hiện gói thầu.
Phải căn cứ vào hồ sơ dự thầu đã nộp và các tài liệu giải thích làm rõ hồ sơ dự thầu của nhà thầu. Loại bỏ hồ sơ dự thầu không hợp lệ, không bảo đảm yêu cầu hồ sơ mời thầu. 7 Phƣơng pháp đánh giá hồ sơ dự thầu [7] Theo quy định, tất cả các tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu dược ghi đầy đủ, rõ ràng cũng là một căn cứ để nhà thầu tham gia đánh giá năng lực. Phương pháp đánh giá hồ sơ dự thầu phải được thể hiện thông qua tiêu chuẩn đánh giá trong hồ sơ mời thầu.
Tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu gồm tiêu chuẩn đánh giá về năng lực, kinh nghiệm trong trường hợp không áp dụng sơ tuyển; tiêu chuẩn đánh giá về mặt kỹ thuật; tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp đối với gói thầu dịch vụ tư vấn hoặc các nội dung để xác định chi phí trên cùng một mặt bằng về kỹ thuật, tài chính, thương mại để so sánh, xếp hạng các hồ sơ dự thầu đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, gói thầu EPC.