CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN MAY SÔNG HỒNG TRÊN THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA 1.Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm cạnh tranh, năng lực cạnh tranh a) Khái niệm về cạnh tranh Thuật ngữ “Cạnh tranh” được sử dụng rất nhiều trong hầu hết mọi lĩnh vực hiện nay,nhất là trong bối cảnh khi xu hướng tự do hóa thương mại đang phổ biến trên toàn cầu.Có thể kể tên một số lĩnh vực được ứng dụng phổ biến như: kinh tế, pháp luật,chính trị, quân sự, thương mại quốc tế.Không chỉ có vậy,thuật ngữ trên thường xuyên xuất hiện phổ biến trên các mặt báo,chương trình thời sự, các diễn đàn kinh tế trên internet cũng như nhiều phương tiện truyền thông khác.Vì vậy nên có nhiều khái niệm liên quan đến thuật ngữ này dưới nhiều góc nhìn khác nhau và được trình bày cụ thể dưới đây: Trong kinh tế học, khái niệm cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhà phân phối,bán lẻ, người tiêu dùng,thương nhân,…) nhằm giành lấy những vị thế để tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thương mại khác để thu được về nhiều lợi ích nhất cho mình.Ở góc độ thương mại, cạnh tranh là một trận chiến giữa các doanh nghiệp trong ngành kinh doanh nhằm giành/giữ được sự chấp nhận và lòng trung thành của khách hàng.Marx [4, tr 161]: “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch” Theo nhà kinh tế học Michael Porter của Mỹ [2,tr 20]: “Cạnh tranh (kinh tế) là giành lấy thị phần.Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.” Theo từ điển Bách khoa Việt nam [8] (tập 1) “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất”. Từ những khái niệm và quan điểm trên,có thể tóm lược lại tổng quát rằng: Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các tổ chức,chủ thể có cùng chức năng như nhau,kinh doanh cùng một loại sản phẩm cũng như đều có một mục tiêu chung muốn chiếm lĩnh thị phần,đánh bại đối thủ cạnh tranh, gia tăng doanh số và thương hiệu của mình thông qua chất lượng sản phẩm và giá bán sản phẩm của doanh nghiệp. 6 b) Năng lực cạnh tranh Thuật ngữ “năng lực cạnh tranh” mặc dù xuất hiện nhiều trên phương tiện truyền thông, đại chúng nhưng cho đến nay các nhà kinh tế học vẫn chưa thống nhất đưa ra được một góc nhìn tổng quát về khái niệm này.Do vậy, hiện vẫn còn tồn tại rất nhiều quan điểm về năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp.Dưới đây là một số quan niệm về thuật ngữ trên được trình bày như sau: Khái niệm về năng lực cạnh tranh đã được đề cập từ lâu tại Mỹ vào đầu những năm 1990.Theo Aldington Report (1985): “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế. Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng đảm bảo thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp”.Năm 1998,Bộ thương mại và công nghiệp Anh đưa ra định nghĩa “Đối với doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào đúng thời điểm.
Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác”. Theo Michael Porter [14], năng lực cạnh tranh là khả năng sáng tạo ra sản phẩm có quy trình công nghệ độc đáo đê tạo ra giá trị gia tăng cao phù hợp với nhu cầu khách hàng,chi phí thấp, năng suất cao nhằm tăng nhanh lợi nhuận. Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam thì “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường”.
Theo tác giả Vũ Trọng Lâm cho rằng “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp”. Tác giả Trần Sửu cũng có ý kiến tương tự: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững”. Theo quan điểm của hai tác giả trên, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu là những lợi thế về năng suất, chất lượng, thị phần, doanh thu mà 7 doanh nghiệp tạo ra, và doanh nghiệp duy trì, sử dụng nó để phát triển cao hơn so với đối thủ, nhằm nâng cao vị thế của chính doanh nghiệp đó. Từ những quan điểm trên, trong phạm vi của đề tài, ta tóm lược lại khái niệm của thuật ngữ trên rằng: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu là khả năng tạo dựng, duy trì và phát triển sản xuất sản phẩm và dịch vụ với công nghệ độc đáo, chất lượng vượt trội so với đối thủ cạnh tranh nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu giá của từng phân khúc khách hàng với mục đích giành lấy thị phần và chiếm lĩnh thị trường.Khái niệm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là việc doanh nghiệp định hướng và phát triển các năng lực đã được doanh nghiệp xác định rõ với mục đích nhằm nâng cao mức tiêu chí của doanh nghiệp như thị phần, sản lượng, doanh thu, lợi nhuận,…khiến cho doanh nghiệp có thể tồn tại và đứng vững trên thị trường, thực hiện tốt mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra Thông thường mỗi doanh nghiệp khi đã tham gia vào thị trường đều sẽ xác định riêng cho mình một bộ chỉ tiêu để đánh giá năng lực cạnh tranh cũng như khả năng hiện thời của doanh nghiệp.
Nên việc nâng cao năng lực cạnh tranh là một điều không thể thiếu trong mục tiêu phát triển của mỗi doanh nghiệp.Lý thuyết về thị trường nội địa Thuật ngữ “thị trường” đã xuất hiện từ lâu và bao trùm lên mọi khía cạnh của nền kinh tế.Chính vì sự phổ biến ấy mà đã có nhiều quan điểm,khái niệm dưới nhiều góc nhìn khác nhau nói về thuật ngữ này.Có quan điểm cho rằng: “Thị trường là tập hợp những người mua,người bán tác động qua lại lẫn nhau,dẫn đến khả năng trao đổi”, hay một cách hiểu khác về thị trường chính là: “Nơi diễn ra các hoạt động mua và bán một thứ hàng hóa nhất định nào đó”.Từ những quan điểm và góc nhìn trên, khái quát lại chúng ta rút ra được một khái niệm rằng:Thị trường là môi trường cho phép người mua và người bán trao đổi hàng hóa,dịch vụ, thỏa mãn nhu cầu từ hai phía cả cung lẫn cầu.Nhất là trong bối cảnh công nghệ hiện nay, thị trường đã được mở rộng hơn rất nhiều không còn giới hạn địa điểm và không gian cụ thể hay nói cách khác, ở đâu diễn ra thương mại giữa người mua và người bán, nơi đó là thị trường. Thị trường được phân loại ra thành nhiều kiểu khác nhau bao gồm: phân loại theo đối tượng bán (thị trường hàng hóa, thị trường lao động, thị trường vốn, thị trường tiền tệ), phân loại theo phạm vi (thị trường thế giới, thị trường quốc gia),phân loại theo số lượng người mua và người bán trên thị trường (Thị trường độc quyền, thị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường cạnh tranh không hoàn hảo). Dưới góc độ của đề tài, thị trường nội địa sẽ thuộc trong nhóm thị trường theo phạm vi.Như vậy ta có thể hiểu khái niệm về thị trường nội địa rằng: Thị trường nội 8 địa là nơi diễn ra sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa người mua và người bán ở quy mô trên lãnh thổ của đất nước đó 1.Một số lý thuyết và nội dung về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1.1 Ma trận SWOT Ma trận SWOT là tập hợp viết tắt những chữ cái đầu tiên của các từ tiếng anh: Strengths (Điểm mạnh),Weaknesses (Điểm yếu),Opportunities (Cơ hội),Threats (Nguy cơ).Trong đó, Strengths (điểm mạnh) và Weaknesses (điểm yếu) là những tác nhân bên trong doanh nghiệp.Còn, cơ hội (Opportunities) và nguy cơ (Threats) là những tác nhân bên ngoài doanh nghiệp.1: Ma trận SWOT SWOT Cơ hội (O) Thách thức (T) - SO: sử dụng điểm - ST: Sử dụng điểm mạnh hạn chế Điểm mạnh (S) mạnh khai thác cơ hội thách thức - WO: sử dụng điểm - WT: Khắc phục điểm yếu hạn Điểm yếu (W) yếu khai thác cơ hội chế thách thức (Nguồn: Giáo trình quản trị chiến lược, Đại học thương mại, trang 261) Ma trận SWOT cũng là một công cụ quan trọng giúp các nhà quản trị kết hợp các điểm mạnh, điểm yếu,cơ hội, thách thức để phát triển thành 4 chiến lược: Chiến lược điểm mạnh- cơ hội (SO), chiến lược điểm yếu – cơ hội (WO), chiến lược điểm mạnh – thách thức (ST), chiến lược điểm yếu – thách thức (WT).Việc kết hợp các yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài là một công việc khó khăn vì nó đòi hỏi phải được thực hiện một cách khách quan và phải có sự phán đoán tốt.Mục đích của phân tích SWOT là đề ra những chiến lược có tính khả thi để có thể lựa chọn.Ma trận SWOT đề ra các chiến lược: + Chiến lược S-O: là chiến lược sử dụng điểm mạnh của doanh nghiệp để khai thác cơ hội.