Chương 1: Sự cần thiết nâng cao NLCT của dịch vụ BHXCG tại Tổng Công ty Bảo Hiểm Bảo Việt. Chương 2: Thực trạng về NLCT của dịch vụ BHXCG tại Tổng Công ty Bảo Hiểm Bảo Việt. Chương 3: Phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao NLCT của dịch vụ BHXCG tại Tổng Công ty Bảo Hiểm Bảo Việt. 3 Chƣơng 1: SỰ CẦN THIẾT NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DỊCH VỤ BẢO HIỂM XE CƠ GIỚI TẠI TỔNG CÔNG TY BẢO HIỂM BẢO VIỆT 1.
Tổng quan về dịch vụ bảo hiểm xe cơ giới 1. Giới thiệu về dịch vụ BHXCG + Xe cơ giới (XCG): Luật giao thông đường bộ Việt Nam năm 2008 quy định XCG gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; mô tô ba bánh; xe gắn máy và các loại xe tương tự. Như vậy, có thể nói XCG là các phương tiện tham gia giao thông đường bộ có gắn động cơ, và do vậy có tính cơ động cao. + Dịch vụ BHXCG: Dịch vụ BHXCG là một dịch vụ trong đó Công ty bảo hiểm thu phí bảo hiểm để nhận chuyển nhượng rủi ro của chủ XCG, cam kết và thực hiện đền bù cho chủ xe khắc phục thiệt hại về người, tài sản, trách nhiệm … khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra.
Đặc điểm của dịch vụ BHXCG Dịch vụ BHXCG là một dịch vụ bảo hiểm có những đặc trưng riêng và những đặc trưng này ảnh hưởng tới việc tổ chức kinh doanh dịch vụ. Các đặc điểm chính của dịch vụ BHXCG là: + Quá trình mua dịch vụ và quá trình sử dụng dịch vụ có sự tách biệt về thời gian. Thời gian bảo hiểm thông thường là một năm nhưng người mua bảo hiểm phải thanh toán phí bảo hiểm cho công ty bảo hiểm ngay từ khi được cấp đơn bảo hiểm. Hết thời hạn bảo hiểm, việc có hay không có sự kiện bảo hiểm thì giá trị của cam kết theo hợp đồng mặc nhiên không còn hiệu lực.
+ Mua và cung cấp dịch vụ BHXCG mang tính cam kết. Cả công ty bảo hiểm và chủ XCG đều không mong muốn có sự kiện bảo hiểm xảy ra để “thực hiện 4 cam kết”. Tuy vậy, dù muốn hay không thì sự kiện bảo hiểm vẫn có thể xảy ra và khi ấy thì người được bảo hiểm – chủ XCG mới thấy, cảm nhận được việc “thực hiện cam kết” của công ty bảo hiểm. + Dịch vụ BHXCG có tính quy mô: XCG mang tính cơ động cao, nên để cung cấp dịch vụ hiệu quả thì công ty bảo hiểm phải có mạng lưới đủ rộng.
Phân loại dịch vụ BHXCG * Phân loại theo tính chất BHXCG: + Bảo hiểm bắt buộc: Đối với BHXCG, Việt Nam quy định các loại hình bảo hiểm bắt buộc là bảo hiểm trách nhiệm dân sự (TNDS) của chủ XCG đối với người thứ 3, hành khách (trường hợp chủ xe kinh doanh vận chuyển hành khách). + Bảo hiểm tự nguyện: là loại hình bảo hiểm chủ xe và DNBH tự thỏa thuận tham gia bảo hiểm. Ở Việt Nam có một số loại hình bảo hiểm tự nguyện là bảo hiểm vật chất xe (VCX) ô tô, bảo hiểm tai nạn lái phụ xe và người ngồi trên xe (TNLP), bảo hiểm TNDS của chủ xe đối với hàng hóa vận chuyển trên xe. * Phân loại theo phạm vi BHXCG: + Bảo hiểm trách nhiệm: là loại hình bảo hiểm cho những trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật mà chủ xe phải bồi thường, khắc phục cho những thiệt hại về thân thể, tài sản do việc sử dụng XCG gây ra.
+ Bảo hiểm tài sản: là loại hình bảo hiểm cho những thiệt hại về XCG xảy ra do những tai nạn bất ngờ ngoài sự kiểm soát của chủ xe trong những trường hợp cụ thể do quy tắc bảo hiểm quy định. + Bảo hiểm con người: là loại hình bảo hiểm cho những thiệt hại về thân thể và tính mạng đối với lái xe và những người khác được chở trên xe gây ra do tai nạn khi xe đang tham gia giao thông. Ngoài ra BHXCG còn được phân loại theo quá trình bảo hiểm chủng loại phương tiện là bảo hiểm xe ô tô, bảo hiểm xe máy. Cơ sở lý luận về cạnh tranh và NLCT của sản phẩm – dịch vụ 1.
Khái niệm về cạnh tranh và NLCT 1. Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế hàng hóa, là điều kiện sống còn của mỗi doanh nghiệp, có một số định nghĩa về cạnh tranh như sau: Theo Các Mác: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu hút được lợi nhuận siêu ngạch”. Theo từ điển Tiếng Việt: “Cạnh tranh là sự ganh đua giữa những cá nhân, tập thể có chức năng như nhau nhằm giành phần hơn, phần thắng về mình” Theo cuốn kinh tế học của P.Samuelson: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị trường”. Ngoài ra, còn có nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm cạnh tranh.
Song qua các định nghĩa trên có thể tiếp cận về cạnh tranh như sau: Thứ nhất, khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua nhằm giành lấy phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham dự. Thứ hai, mục đích trực tiếp của cạnh tranh là một đối tượng cụ thể nào đó mà các bên đều muốn giành giật (như một cơ hội, một dự án, khách hàng. ) với mục đích cuối cùng là kiếm được lợi nhuận cao. Thứ ba, cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, có các ràng buộc chung mà các bên tham gia phải tuân thủ như: đặc điểm sản phẩm, thị trường, các điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh.
Thứ tư, trong quá trình cạnh tranh, các chủ thể có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau: cạnh tranh bằng đặc tính và chất lượng sản phẩm dịch vụ, cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm dịch vụ; cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm; cạnh tranh nhờ dịch vụ bán hàng tốt; cạnh tranh thông qua hình thức thanh toán. Khái niệm về NLCT Mặc dù thuật ngữ NLCT được nhắc đến nhiều, nhưng để có một khái niệm cụ thể về nó thì đây là vấn đề gây nhiều tranh luận. Đối với các lãnh đạo doanh nghiệp, NLCT có nghĩa là sức cạnh tranh trên thị trường thế giới nhằm nhờ áp dụng chiến lược toàn cầu mà có được. Đối với các nhà kinh tế học, sức cạnh tranh là giá thấp của đơn vị sức lao động dựa vào điều chỉnh hồi suất.
Trong từ điển thuật ngữ chính sách thương mại: “Sức cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp, một ngành, một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác đánh bại về năng lực kinh tế” (University of Adelaide, 1997). Các cấp độ NLCT NLCT được xem xét ở các góc độ khác nhau như: NLCT quốc gia, NLCT ngành, NLCT doanh nghiệp, NLCT của sản phẩm và dịch vụ. a) NLCT quốc gia Theo Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), NLCT của quốc gia phụ thuộc vào 12 tiêu chí, được xếp theo thứ tự như sau: thể chế, hệ thống cơ sở hạ tầng, ổn định kinh tế vĩ mô, hệ thống y tế và giáo dục phổ thông, trình độ giáo dục đại học, tính hiệu quả của thị trường hàng hóa, tính hiệu quả của thị trường lao động, sự phát triển của thị trường tài chính, mức độ sẵn sàng về công nghệ, quy mô thị trường, sự phát triển của môi trường kinh doanh và mức độ sáng tạo. Năm 2010 Việt Nam được WEF xếp hạng NLCT toàn cầu thứ 59 trong số 133 quốc gia được xếp hạng, thăng tiến tới 16 bậc so với năm 2009.
b) NLCT ngành NLCT của ngành phụ thuộc vào 4 nhóm yếu tố: - Nhóm yếu tố do ngành tự quyết định bao gồm: chiến lược phát triển ngành, sản phẩm chế tạo, lựa chọn công nghệ, đào tạo cán bộ, đầu tư nghiên cứu công nghệ và phát triển sản phẩm, chi phí sản xuất và quan hệ với bạn hàng. 7 - Nhóm các yếu tố do Chính phủ quyết định, tạo ra môi trường kinh doanh bao gồm: thuế, lãi suất ngân hàng, tỷ giá, chi ngân sách cho hoạt động nghiên cứu triển khai, hệ thống luật pháp điều chỉnh quan hệ giữa các bên tham gia thị trường. - Nhóm yếu tố mà Chính phủ và ngành chỉ quyết định được một phần như: nguyên liệu đầu vào sản xuất, nhu cầu của người tiêu dùng, môi trường quốc tế. - Nhóm các yếu tố hoàn toàn không thể quyết định được như: môi trường tự nhiên, quy luật kinh tế.
c) NLCT doanh nghiệp Doanh nghiệp muốn có vị trí vững chắc và thị trường ngày càng được mở rộng thì cần có tiềm lực đủ mạnh để có thể cạnh tranh trên thị trường. NLCT của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững. Để đánh giá NLCT của doanh nghiệp người ta dựa vào nhiều tiêu chí: thị phần, doanh thu, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận, thu nhập bình quân, phương pháp quản lý, uy tín của doanh nghiệp đối với xã hội, nghiên cứu và sáng tạo. Những yếu tố đó tạo cho doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh, tức là tạo cho doanh nghiệp có khả năng triển khai các hoạt động với hiệu suất cao hơn các đối thủ cạnh tranh, tạo ra giá trị cho khách hàng dựa trên sự khác biệt trong các yếu tố của chất lượng hoặc chi phí thấp, hoặc cả hai.
d) NLCT của sản phẩm/ dịch vụ Theo một số tác giả, NLCT của sản phẩm/dịch vụ là khả năng sản phẩm/dịch vụ đó đáp ứng được nhu cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng, tính độc đáo, … hơn hẳn trong tương quan so sánh trực tiếp với những sản phẩm/dịch vụ tương tự cạnh tranh trên cùng một thị trường mục tiêu trong một khoảng thời gian xác định. Theo GS Tôn Thất Nguyễn Thiêm, Trung tâm kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương: “Khả năng cạnh tranh sản phẩm là khả năng duy trì và cải thiện vị trí cạnh 8 tranh sản phẩm trong hiện tại và tương lai so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường nhằm thu lợi ích tối đa”. Như vậy, NLCT của sản phẩm/ dịch vụ được cấu thành bởi nhiều yếu tố, những yếu tố cơ bản không thể thiếu được là: yếu tố về chất lượng sản phẩm, yếu tố về giá cả, tính độc đáo hay sự khác biệt.