Chương 1: Những vấn đề cơ bản về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành công nghiệp. Chương 2:Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực ngành công nghiệp tỉnh Nam Định. Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành công nghiệp tỉnh Nam Định đến năm 2020. 4 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CÔNG NGHIỆP 1.1 Cở sở lý luận về nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực [17, tr 1] Thuật ngữ NL hay nguồn NL (Human resources) bắt đầu được sử dụng phổ biến từ những năm 80 của thế kỷ XX.
Đây là bước ngoặt đánh dấu sự thay đổi căn bản và toàn diện về cách nhìn nhận vai trò của con người đối với sự phát triển kinh tế - xã hội. Nếu trước những năm 80 của thế kỷ XX con người được coi như một loại công cụ lao động, những lực lượng thừa hành, phụ thuộc cần phải được khai thác một cách tối đa sức lao động hiện có của họ với chi phí thấp nhất, thì sau đó con người đã được coi là nguồn lực nhiều tiềm năng , có khả năng tổ chức và sáng tạo cần phải được phát huy và khai thác. Vì thế phương thức quản lý con người cũng đã chuyển từ phương thức quản lý cứng nhắc sang phương thức quản lý linh hoạt và mềm dẻo hơn. Nhờ vậy, tiềm năng của con người được phát huy tối đa và ngày càng có vai trò to lớn có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia.
Ở Việt Nam, nhiều năm qua khái niệm NNL đã được sử dụng một cách rộng rãi và phổ biến. Nhìn chung, khái niệm NNL trong các công trình nghiên cứu thường được tiếp cận theo 2 góc độ: (1) NNL với tư cách là nguồn lực trong mỗi con người, (2) NNL với tư cách là tổng thể nguồn lực con người của một tổ chức, một bộ phận hoặc một hệ thống lao động xã hội. + Ở góc độ thứ nhất, NNL với tư cách là nguồn lực trong mỗi con người. Ở góc độ này, tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu, khái niệm NNL trong các công trình nghiên cứu được sử dụng theo nhiều nghĩa khác nhau.
Tuy nhiên thông thường khái niệm NNL được hiểu phổ biến theo các nghĩa chủ yếu sau đây: (a) NNL là những con người cụ thể có sức lao động, có khả năng lao động, hoặc những người tham gia lao động trực tiếp bằng sức lực; 5 (b) NNL là toàn bộ những năng lực, sức lực, sức mạnh bao gồm thể lực, trí lực, nhân cách của mỗi con người; (c) NNL là nguồn lực con người với tổng thể các yếu tố vật chất và tinh thần hợp thành năng lực lao động trong mỗi cá nhân; (d) NNL là nguồn lực trong mỗi con người, trong đó có cả nguồn lực hiện hữu và nguồn lực tiềm năng, (e) NNL là khả năng lao động của mỗi con người được thể hiện ở khả năng đảm nhiệm, thực hiện và hoàn thành công việc. Với các cách hiểu chủ yếu theo cách tiếp cận trên đây, theo quan điểm của luận văn NNL là nguồn lực trong mỗi con người. Đó là tổng thể thống nhất hữu cơ giữa tiềm năng lao động với năng lực lao động hiện có của mỗi con người hình thành nên năng lực lao động của họ. Ở đây, tính tổng thể thống nhất của nguồn lực trong mỗi con người được thể hiện ở tổng hòa toàn bộ những tiềm năng lao động với năng lực lao động hiện có của con người đó.
Như vậy ở góc độ thứ nhất khi nói đến NNL, tức là nói đến năng lực lao động của mỗi con người với tư cách là chủ thể của hoạt động lao động mang tính chất là hành vi cá nhân. Tuy nhiên, khi xác định và đánh giá NNL chúng ta không chỉ lượng hóa các chỉ tiêu phản ánh khả năng và mức độ đảm nhiệm, thực hiện và hoàn thành công việc của mỗi con người mà còn cần phải lượng hóa các chỉ tiêu phản ánh các yếu tố cấu thành khả năng lao động đó, bao gồm tình trạng thể lực, trí lực và nhân cách từng con người… Có thể nói, việc tiếp cận khái niệm NNL với tư cách là nguồn lực trong mỗi con người có ý nghĩa rất quan trọng. Nó là cõ sở ðể nghiên cứu hoạt ðộng lao động của con người với tư cách là hành vi của từng cá nhân. Từ đó, cho phép các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách nhận diện rõ động cơ, nhu cầu của từng cá nhân trong quá trình tham gia vào các hoạt động kinh tế, làm căn cứ cho việc định hướng mục tiêu của từng cá nhân, huy động và phát huy sức mạnh của từng cá nhân nhằm đạt được mục tiêu chung.
6 + Ở góc độ thứ hai, NNL với tư cách là tổng thể nguồn lực con người của một tổ chức, một bộ phận hoặc của hệ thống lao động xã hội. Khi nói đến NNL với tư cách là tổng thể nguồn lực con người của một tổ chức, một bộ phận hoặc của toàn bộ hệ thống lao động xã hội thì không thể hiếu đó là sự tập hợp đơn thuần bằng phép cộng cơ học toàn bộ các khả năng lao động cá nhân của tất cả những người lao động thành viên. Do đó, để có cách hiểu đúng và phản ánh rõ bản chất khả năng lao động tập thể hay sức lao động tập thể của một tổ chức, một bộ phận hoặc của toàn bộ hệ thống lao động xã hội thì khái niệm NNL phải được xem xét dưới góc nhìn tổng thể. Ở góc độ này, khái niệm về NNL hiện nay ở nước ta cũng đang có nhiều quan điểm khác nhau: (i) Theo quan điểm quản lý NNL xã hội, NL hay NNL chính là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, nó phản ánh khả năng lao động của xã hội.
Theo quan điểm này, NNL cũng có thể được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, đó là một bộ phận dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động gắn với cung lao động và được xác định ở quy mô, số lượng, cơ cấu lao động của mỗi quốc gia. Quan niệm NNL theo nghĩa này được dung phổ biến trong các lý thuyết lao động xã hội trong các cuộc điều tra lao động - việc làm. Thông thường khi thống kê lao động _ việc làm theo phạm vi quốc gia, vùng lãnh thổ, theo đơn vị hành chính hay các ngành kinh tế trong hệ thống nên kinh tế quốc dân thuật ngữ “ Dân số trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động” thường được sử dụng đồng nghĩa với thay thế cho thuật ngữ “ NNL”. (ii) Theo quan điểm kinh tế nguồn NL, NNL là sức mạnh tiềm ẩn và khả năng huy động sức mạnh đó tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như tương lai.
( iii) Theo quan điểm quản trị NNL , khái niệm NNL được xem xét và tiếp cận với tư cách là tổng thể nguồn nhân lực của một tổ chức. Theo đó, NNL được hiểu là sức mạnh , khả năng lao động, sức lao động tập thể của LLLĐ, của đội ngũ lao động trong tổ chức. Sức lao động tập thể đó được huy động và hợp thành từ sức mạnh năng lực lao động của các thành viên người lao động cụ thể nhăm hướng tới đạt được mục tiêu chung của tổ chức. 7 Với các cách hiểu theo góc nhìn tổng thể có thể thấy các quan niệm NNL trên đây về cơ bản phản ánh những đặc điểm khái quát sau: Một là, NNL là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, phản ánh khả năng lao động của xã hội (hoặc một tổ chức hoặc một bộ phận của hệ thống lao động xã hội); Hai là, NNL là tiềm năng lao động của con người trong hoạt động kinh tế.
Ba là, NNL là tổng hòa giữa năng lực xã hội của con người với tính năng lao động xã hội của con người. Bốn là, NNL là tập hợp những kiến thức, khả năng, kỹ năng, sức sáng tạo, kinh nghiệm từ thực tế mà con người tích lũy được thông qua quá trình đầu tư vào giáo dục, đào tạo, y tế… đề hình thành nên vốn con người nhằm sử dụng trong các hoạt động kinh tế. Năm là, NNL là năng lực, sức mạnh tổng hợp, sức lao động tập thể của toàn bộ LLLĐ được huy động để tham gia vao các hoạt động kinh tế.2 Vai trò nguồn nhân lực với tăng trƣởng và phát triển kinh tế [ 17], [27] Trong những thập kỷ 50 – 60 của thế kỷ 20, những thành tựu tăng trưởng kinh tế thế giới chủ yếu do nền công nghiệp mang lại. Đây là kết quả của những tiến bộ khoa học kỹ thuật do con người tạo ra đặc biệt ở những nước có nguồn nhân lực phát triển.
Trước đây người ta đánh giá cao vai trò của nguồn nhân lực tự nhiên thì ngày nay người ta quan tâm nhiều hơn đến vai trò của con người, nguồn nhân lực con người trở thành nguồn lực cơ bản nhất, quan trọng nhất để phát triển. Trong phát triển kinh tế xã hội, nhân tố con người vừa là mục tiêu vừa là động lực. Yếu tố này có mối quan hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại thúc đẩy cùng phát triển. Nguồn lực cơ bản của sự phát triển gồm nguồn lực tự nhiên và nguồn lực con người, trong đó nguồn lực tự nhiên là tài nguyên thiên nhiên một số là hữu hạn nhưng nguồn lực con người lại mang tính vô hạn, không mất đi mà ngày càng hoàn thiện phát triển.
Đây là ưu thế hơn hẳn của nguồn lực con người so với nguồn lực tự nhiên. Nguồn lực con người trở thành nguồn lực cơ bản, quan trọng nhất để phát triển. Mặt khác từ thực tế phát triển kinh tế xã hội và kinh nghiệm của một số nước đã chỉ ra rằng việc đầu tư vốn và công nghệ sẽ không hiệu quả nếu không có nguồn nhân lực tương xứng với các yêu cầu phát triển. 8 Ngày nay khi xuất hiện quan điểm về nền kinh tế tri thức thì vai trò của nguồn nhân lực càng được đánh giá cao.
Chất lượng nguồn nhân lực bao hàm chứa đựng giá trị tri thức kết tinh của nhân loại. Từ thập kỷ 80 đến nay do tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, đặc biết là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu, công nghệ năng lượng nền kinh tế thế giới đang biến đổi mạnh mẽ. Đây không phải là một sự biến đổi bình thường mà là một bước ngoặt lịch sử có ý nghĩa trọng đại.