Chương 1: Những vấn đề chung về marketing xuất khẩu của doanh nghiệp may Chương 2: Thực trạng hoạt động marketing xuất khẩu của công ty cổ phần May Sơn Động Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường marketing xuất khẩu của công ty cổ phần May Sơn Động 6 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MARKETING XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP MAY 1. Đặc điểm sản xuất và xuất khẩu hàng may mặc 1. Đặc điểm về sản phẩm Với một quốc gia, khi có nền công nghiệp phát triển thì ngành công nghiệp may mặc không đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế mà các ngành công nghiệp khác có hàm lượng kỹ thuật cao sẽ ở vị trí dẫn dắt. Do ngành may mặc là một ngành sử dụng nhiều lao động đơn giản, vốn đầu tư ban đầu không lớn, nên sản xuất hàng may mặc thường phát triển mạnh ở các nước đang phát triển, đặc biệt là trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá.
Khi đã có công nghiệp phát triển, có trình độ kỹ thuật cao, giá lao động cao thì sức cạnh tranh trong sản xuất hàng may mặc sẽ giảm. Thực tế cho thấy, lịch sử phát triển ngành may mặc thế giới cũng là lịch sử chuyển dịch công nghiệp may mặc từ khu vực phát triển sang khu vực kém phát triển hơn do tác động của các lợi thế so sánh. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là ngành may mặc không còn tồn tại các nước phát triển mà nó đã phát triển cao hơn với những sản phẩm cao cấp, thời trang để phục vụ cho một nhóm khách hàng có thu nhập cao. Theo quy luật chuyển dịch của ngành may mặc thì đến năm 1980 lợi thế so sánh của ngành may mặc mất dần đi, các quốc gia phát triển chuyển sang sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng có công nghệ và kỹ thuật cao hơn như điện tử, ô tô.
Ngành may mặc lại tiếp tục chuyển dịch sang các nước Đông Nam Á, Trung Quốc rồi tiếp tục sang các quốc gia khác, trong đó có Việt nam, là một quốc gia thuộc ASEAN và cũng đã đạt mức xuất khẩu cao về sản phẩm may mặc Việt Nam trong thập kỷ qua góp phần vào công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. So với nhiều ngành khác, ngành may mặc ở Việt Nam là ngành công nghiệp truyền thống có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Từ khi đổi mới, ngành may mặc không ngừng phát triển về quy mô, năng lực sản xuất, trình độ công nghệ trang 7 thiết bị, ngày một tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng sản phẩm. Cho đến nay, sản phẩm may đã đáp ứng được nhu cầu trong nước và đã xuất khẩu nhiều sang các thị trường khó tính như EU, Nhật Bản, Bắc Mỹ.
Việc xuất khẩu hàng may mặc đã đem lại một khoản ngoại tệ rất đáng kể để đổi mới và nâng cấp toàn bộ trang thiết bị công nghệ của ngành. Ngành may mặc không chỉ đem lại nguồn tích lũy cho đất nước mà còn góp phần quan trọng giải quyết việc làm, mang lại thu nhập cho người lao động, tạo sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội. Nước ta có dân số đông, nguồn lao động dồi dào, người Việt Nam lại có truyền thống cần cù và rất sáng tạo. Mặt khác, giá cả sinh hoạt thấp, chi phí lao động rẻ, tạo điều kiện thuận lợi cho hàng dệt may có ưu thế cạnh tranh.
Hơn nữa, Việt Nam còn có vị trí địa lý và cảng khẩu rất thuận lợi cho việc chuyên chở hàng hóa bằng đường biển nên giảm được chi phí vận tải. Hệ thống cảng biển Việt Nam nói chung đều gần kề đường hàng hải quốc tế nên có thể hành trình theo tất cả các tuyến đi Bắc Á, Đông Á và Nam Á Thái Bình Dương, đi Trung Cận Đông, châu Âu, châu Phi, châu Mỹ. Việt Nam cũng nằm trong nhóm các nước xuất khẩu lớn hàng dệt may như Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan. Có thể nói, phát triển ngành may mặc Việt Nam là phát huy tối đa những lợi thế hiện nay để phát triển kinh tế, thực hiện thành công mục tiêu công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Trong giai đoạn hiện nay, sản xuất ngành may mặc có vai trò và ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và buôn bán quốc tế. Trong lịch sử của nền mậu dịch thế giới, sản phẩm ngành may là một trong những sản phẩm đầu tiên tham gia vào thị trường quốc tế. Sản phẩm hàng may mặc có một số đặc điểm cơ bản sau: - Sản phẩm dệt may rất phong phú, đa dạng tuỳ theo đối tượng tiêu dùng. Người tiêu dùng khác nhau về văn hoá, phong tục tập quán, tôn giáo, khác nhau về khu vực địa lý, tuổi tác.
sẽ có nhu cầu rất khác nhau về trang phục. - Sản phẩm dệt may mang tính thời trang cao, phải thường xuyên thay đổi mẫu mã, kiểu dáng, màu sắc, chất liệu để đáp ứng tâm lý thích đổi mới, độc đáo và gây ấn tượng của người tiêu dùng. 8 -Nhãn mác sản phẩm có ý nghĩa rất lớn đối với tiêu thụ sản phẩm. Người tiêu dùng thường căn cứ vào nhãn mác để đánh giá chất lượng sản phẩm.
Tên tuổi của các hãng nổi tiếng trên thế giới đều gắn liền với nhãn mác sản phẩm. Tập quán và thói quen tiêu dùng là một yếu tố quyết định nguyên liệu và chủng loại sản phẩm. - Yếu tố thời vụ liên quan chặt chẽ tới thời cơ bán hàng. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với những nhà xuất khẩu trong vấn đề giao hàng đúng thời hạn.
- Các sản phẩm dệt may là một trong những mặt hàng chịu nhiều rào cản thương mại thuế quan và phi thuế quan. Trước đây có hiệp định về hàng may mặc, việc buôn bán các sản phẩm dệt may được điều chỉnh theo những thể chế thương mại đặc biệt mà nhờ đó, phần lớn các nước nhập khẩu thiết bị các hạn chế số lượng để hạn chế hàng dệt may nhập khẩu. Mặt khác, mức thuế phổ biến đánh vào hàng dệt may còn cao hơn so với những hàng hoá công nghiệp khác. Bên cạnh đó, từng nước nhập khẩu còn đề ra những điều kiện đối với hàng dệt may nhập khẩu.
Tất cả những hàng rào đó ảnh hưởng rất nhiều đến sản xuất và buôn bán hàng dệt may trên thế giới trong thời gian qua. Đặc điểm về xuất khẩu Xuất khẩu là hoạt động cơ bản trong ngoại thương, mang lại nhiều giá trị cho mỗi quốc gia xuất khẩu. Chủ thể tham gia vào các quan hệ trao đổi buôn bán quốc tế rất đa dạng, bao gồm các công ty, doanh nghiệp ở nhiều quốc gia, nhiều khu vực khác nhau. Xuất khẩu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như môi trường kinh tế, môi trường văn hoá, chính trị xã hội,….
Xuất khẩu hàng may mặc có những đặc điểm cơ bản sau Về hình thức xuất khẩu: Đối với xuất khẩu hàng dệt may chủ yểu xuất khẩu theo hình thức gián tiếp (gia công xuất khẩu): Hàng gia công chuyển tiếp, hàng gia công để xuất khẩu thông qua một cơ sở ký hợp đồng gia công trực tiếp với nước ngoài. Hàng hoá sản xuất ra để phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu không dùng cho tiêu dùng nội địa, như vậy gia công xuất khẩu gắn liền với việc xuất và nhập khẩu hàng hoá. Việc sản xuất hàng hoá phải theo đơn đặt hàng của bên đặt gia công. Bên nhận gia công phải tuân theo yêu cầu của bên đặt gia công về chủng loại, số lượng, kiểu 9 dáng, mẫu mã, kích thước, chất lượng sản phẩm một cách nghiêm ngặt.
Lợi nhuận của gia công xuất khẩu chính là tiền công sau khi trừ đi các chi phí gia công. Thời gian lưu chuyển hàng hoá trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu bao giờ cũng dài hơn so với thời gian lưu chuyển hàng hoá trong hoạt động kinh doanh nội địa do khoảng cách địa lý cũng như các thủ tục phức tạp liên quan đến xuất khẩu hàng hoá. Do đó, để xác định kết quả hoạt động kinh doanh xuất khẩu, người ta chỉ xác định khi hàng hoá đã luân chuyển được một vòng hay khi đã thực hiện xong một thương vụ ngoại thương. Đặc điểm của hợp đồng xuất nhập: So với những hợp đồng mua bán trong nước, hợp đồng xuất nhập khẩu có ba đặc điểm: - Thứ nhất, (đặc điểm quan trọng nhất) chủ thể của hợp đồng, người mua, người bán có cơ sở kinh doanh đăng ký tại hai quốc gia khác nhau.
ở đây cần lưu ý rằng quốc tịch không phải là yếu tố để phân biệt: dù người mua và người bán có quốc tịch khác nhau nhưng nếu việc mua bán được thực hiện trên lãnh thỗ của cùng một quốc gia thì hợp đồng mua bán cũng không mang tính chất quốc tế. - Thứ hai: Đồng tiền thanh toán có thể là ngoại tệ đối với một trong hai bên hoặc cả hai bên. - Thứ ba: Hàng hóa - đối tượng mua bán của hợp đồng được chuyển ra khỏi đất nước người bán trong quá trình thực hiện hợp đồng. - Thứ tư: Văn bản hợp đồng là văn bản có giá trị pháp lý bắt buộc các bên phải có trách nhiệm thực hiện các điều khoản mà các bên đã thỏa thuận và ký kết trong hợp đồng.
Những văn bản này phải được hình thành trên cơ sở thỏa thuận một cách bình đẳng và tự nguyện giữa các bên. - Thứ năm: Chủ thể hợp đồng là những đối tác cam kết thực hiện những nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi theo những điều kiện của hợp đồng. Hợp đồng có thể ký giữa: Pháp nhân với pháp nhân;- Pháp nhân với cá nhân có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Nội dung hoạt động Marketing xuất khẩu của doanh nghiệp 1.
Tổ chức bộ máy marketing 1. Bộ máy marketing Trong giai đoạn đầu của hoạt động marketing xuất khẩu, doanh nghiệp xuất khẩu có thể đơn giản chỉ việc sử dụng các nhà trung gian hoặc thiết lập một bộ phận xuất khẩu nhỏ để điều hành việc xuất khẩu các sản phẩm được tiêu chuẩn hóa. Khi các hoạt động xuất khẩu phát triển, sự cạnh tranh xuất khẩu gia tăng, bộ máy xuất khẩu phải được tổ chức chuyên sâu hơn để đáp ứng một cách đầy đủ cho những yêu cầu của khách hàng nước ngoài. cũng có sự quan tâm về phối trí và kiểm tra các hoạt động thị trường nước ngoài.
Khi đó, những kỹ năng và sự nhạy cảm mới trong quản lý được đặt ra. Không có một bộ máy tổ chức hoàn hảo riêng lẻ cho marketing xuất khẩu. Sự đa dạng về địa lý tạo ra sự mở rộng chiến lược xuất khẩu.