CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MARKETING-MIX CHO DỊCH VỤ 1. Lý thuyết về dịch vụ 1. Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là khái niệm quen thuộc, xuất hiện nhiều trong cuộc sống thường ngày. Từ những hành động nhỏ như đặt một chuyến xe, đặt vé xem phim, ăn uống ngoài hàng… Tất cả đều được gói gọn trong 2 chữ dịch vụ.
Trong giới học thuật, rất nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra định nghĩa riêng của mình về khái niệm này. Kotler (2006) đã đưa ra định nghĩa về dịch vụ có tính bao quát như sau: “Dịch vụ là một giải pháp hay lợi ích mà một bên có thể cung ứng cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện sản phẩm dịch vụ có thể gắn hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất”. Trong định nghĩa này ông đã nhấn mạnh bản chất dịch vụ là cung cấp cho khách hàng giá trị lợi ích cụ thể, đúng với nhu cầu, khiến khách hàng thỏa mãn khi sử dụng dịch vụ.
Phạm Thị Huyền và Nguyễn Hoài Long (2018) đã đưa ra định nghĩa riêng của mình: “Dịch vụ là bất cứ hoạt động hoặc một sự thực hiện hoặc sự trải nghiệm mà một bên có thể cung ứng cho bên kia, mang tính chất vô hình và thường là không dẫn đến sự sở hữu bất cứ yếu tố nào của quá trình tạo ra hoạt động/sự trải nghiệm/việc hiện thực đó”. Ở định nghĩa này đặc biệt nhấn mạnh về tính vô hình của dịch vụ. Còn theo tiến sĩ Nguyễn Thị Mơ (2005) đã có định nghĩa về dịch vụ cô đọng và xúc tích như sau: “Dịch vụ là các hoạt động của con người được kết tinh thành các sản phẩm vô hình và không thể cầm nắm được”. Những định nghĩa trên cơ bản giống nhau, đều đi theo con đường liệt kê những đặc tính cơ bản nhất của dịch vụ.
Trong khuôn khổ đề án, tác giả sẽ đưa ra một định nghĩa chung nhất: Dịch vụ là hoạt động mang lại trải nghiệm, mang lại những lợi ích cần thiết cho người tiêu dùng. Khách hàng sẽ không thể nhìn thấy, cầm nắm dịch vụ vì đặc tính vô hình vốn có, cũng như không quyền sở hữu bất kỳ yếu tố vật chất nào khác trong quá trình sử dụng dịch vụ. Đặc tính của dịch vụ Như đã đề cập ở trên, dịch vụ có những đặc tính riêng biệt, khác với các sản phẩm hàng hóa thông thường. Đó là tính vô hình, không thể tách rời, không đồng nhất và không lưu trữ được.
Tính vô hình hiểu một cách đơn giản là khách hàng không thể cầm, nắm hay kiểm tra dịch vụ trước khi mua. Ví dụ cùng phục vụ cho hoạt động xem phim, nhưng khi đi mua sản phẩm máy chiếu phim, khách hàng có thể cầm hộp máy chiếu phim trên tay xem nặng hay nhẹ, có đầy đủ tem mác hay không, chắc chắn chuẩn chính hãng. Ngoài ra khách hàng có thể sử dụng sản phẩm mẫu để kiểm tra xem độ phân giải, khả năng kết nối, tản nhiệt và tiếng ồn… Có phù hợp với nhu cầu hay không. Ngược lại, trước khi sử dụng dịch vụ đặt vé xem phim ở rạp chiếu, khách hàng sẽ không thể biết kịch bản phim hay dở như thế nào, âm thanh ánh sáng ở rạp chiếu sống động ra sao, hay ghế ngồi có thoải mái hay không.
Mặc dù có thể xem trước các đoạn phim quảng cáo, hoặc hỏi ý kiến của cộng đồng, tuy nhiên cũng sẽ có độ chênh lệch với thực tế dịch vụ được nhận. Cũng vì đặc tính vô hình này, nên các nhà cung cấp dịch vụ luôn cố gắng hữu hình hóa dịch vụ thông qua phương tiện và lao động để lấy được sự tin tưởng của khách hàng. Tính không tách rời của dịch vụ được hiểu là việc sản xuất và sử dụng dịch vụ được diễn ra đồng thời. Cả người cung ứng dịch vụ và khách hàng đều có sự tác động qua lại lẫn nhau để tạo ra trải nghiệm dịch vụ cuối cùng.
Ví dụ trong lĩnh vực giáo dục, thầy cô không thể đến lớp học và giảng bài trước, sau đó vài tiếng các học sinh mới đến và lắng nghe, mà 2 hoạt động này phải diễn ra đồng thời cùng một lúc. Lúc này, thầy cô là người cung cấp dịch vụ, đóng vai trò là một người hướng dẫn, huấn luyện cho cả bản thân và khách hàng. Các yếu tố quan trọng như kiến thức, kỹ năng, kiến thức và sự tận tụy của người cung ứng dịch vụ ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dịch vụ cuối cùng. Học sinh bây giờ chính là những khách hàng đóng vai trò tiếp nhận dịch vụ.
Tuy nhiên, không phải là sự tiếp nhận thụ động một chiều, mà phải có sự tương tác qua lại giữa 2 bên bằng việc giơ tay phát biểu, hỏi lại những phần chưa hiểu để tiết học trở nên thú vị, người học cảm thấy với những kiến thức thu nạp được, còn người dạy cũng cảm thấy vui vẻ khi những thông tin mình truyền tải được lắng nghe và ghi nhớ hơn. Thành công hay thất bại của quá trình cung ứng dịch vụ đều phụ thuộc vào hoạt động tương tác qua lại này. Tính không ổn định khẳng định rằng chất lượng và hiệu suất của dịch vụ không thể giống nhau từ ngày này qua ngày khác mà còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố chủ 7 quan và khách quan khác nhau. Ví dụ khi khách hàng đi mua mì gói, dù thời gian mua cách nhau vài ngày hay vài tháng, chất lượng gói mì cũng không thay đổi bởi vì quy trình sản xuất đồng bộ, với định lượng giống nhau trên hàng trăm ngàn sản phẩm.
Tuy nhiên, việc này lại khác khi tôi ăn bát mì trong nhà hàng. Từ hôm trước đến hôm sau đã có sự khác biệt, có thể do thay đầu bếp, hay do tâm trạng khách hàng không tốt nên ăn gì cũng thấy không ngon, hoặc phục vụ hôm nay gặp chuyện buồn nên bưng bê không để ý và chậm chạp hơn bình thường, hoặc đơn giản trời mưa to gió lớn, nhà hàng bị mất điện ảnh hưởng đến trải nghiệm của khách hàng. Để khắc phục điều này, các nhà cung ứng dịch vụ có thể đưa ra các quy định cụ thể, quản lý chặt chẽ về quy trình phục vụ để giảm thiểu tối đa các sai sót có thể xảy ra. Đồng thời phải bỏ ra nhiều thời gian và công sức đào tạo nhân sự, có kỹ năng phục vụ khách hàng chuyên nghiệp, sẵn sàng ứng phó với các biến cố bất ngờ có thể xảy ra.
Tính không lưu trữ được là một đặc tính quan trọng, khẳng định rằng dịch vụ không thể bảo quản, cất giữ. Ví dụ như mùa du lịch thấp điểm, phòng khách sạn trống nhiều nhưng các chủ khách sạn không thể tích trữ và chờ mùa cao điểm mới bán ra kiếm lời. Tương tự với nhà hàng, không thể lưu trữ những ghế trống và nhân sự vào các khung giữa buổi sáng (9:00-11:00), buổi chiều sớm (14:00-17:00) và buổi tối muộn (21:00- 22:00) để dành cho khung cao điểm từ 12:00 trưa và 18:00 tối. Nói cách khác, nếu bạn không thể bán và sử dụng dịch vụ tại thời điểm được tạo ra, dịch vụ sẽ mất đi giá trị và không thể khôi phục trong tương lai.
Để khắc phục được điều này, các nhà quản lý cần theo dõi sát sao các quy luật cung cầu của thị trường để có phương án điều chỉnh phù hợp: Giảm bớt nhân sự và nguồn lực trong thời gian thấp điểm, tập trung nguồn lực, tung ra các khuyến mại, kích cầu vào thời gian thấp điểm. Ngoài ra có các chính sách mở rộng quy mô để phục vụ được lượng khách lớn hơn khi cao điểm. Điều này đảm bảo doanh nghiệp có thể linh hoạt thích ứng với các biến động từ thị trường. Các cấp độ của dịch vụ Dựa theo mô hình “Bông hoa dịch vụ” được phát triển bởi phó giáo sư Christopher Lovelock, dịch vụ chia làm 2 cấp độ cơ bản: Dịch vụ cốt lõi và dịch vụ bổ sung.
Trong đó dịch vụ cốt lõi là những gì mà khách hàng thực sự muốn mua, là yếu tố giá trị cốt yếu, không thể thiếu được của dịch vụ, nếu thiếu yếu tố này thì sản phẩm dịch vụ không còn là dịch vụ đó nữa. Còn dịch vụ bổ sung chính là những yếu tố làm tăng giá trị, tăng tính hấp dẫn cho dịch vụ cốt lõi. Dịch vụ bổ sung đóng vai trò quan trọng trong việc khác biệt hoá và định vị dịch vụ, giúp dịch vụ tính giá cao hơn. 8 Christopher Lovelock đã tiếp tục phân loại dịch vụ bổ sung ra làm 2 nhóm: Nhóm các yếu tố tạo sự thuận tiện cho việc sử dụng dịch vụ (bao gồm các yếu tố thông tin, đặt chỗ, tính tiền, thanh toán); nhóm các yếu tố nhằm tạo thêm giá trị gia tăng (bao gồm các yếu tố tư vấn, lòng mến khách, an toàn và các yếu tố ngoại lệ).
Các yếu tố này có thể xem là nền tảng trong việc phát triển dịch vụ bổ sung. Không phải mọi dịch vụ cốt lõi đều nhất thiết phải đi kèm với cả tám yếu tố dịch vụ bổ sung này. Mô hình của Lovelock chỉ nhấn mạnh rằng dịch vụ cốt lõi chính là đài hoa, luôn ở vị trí trung tâm. Còn dịch vụ bổ sung giống như những cánh hoa xoay quanh hỗ trợ.
Mô hình “bông hoa dịch vụ” có thể coi là nền tảng tư duy trong việc định hướng và phát triển dịch vụ cho doanh nghiệp. Lý thuyết về marketing-mix 1. Khái niệm marketing-mix Hiểu rõ khái niệm khái niệm marketing-mix cũng là một bước quan trọng để tác giả có định hướng nghiên cứu rõ ràng và đúng đắn cho đề án. Kotler (2007) đã khẳng định: “Marketing-mix là tập hợp các biến số mà công ty có thể kiểm soát và quản trị được.
Nó được sử dụng để cố gắng gây được phản ứng mong muốn từ thị trường mục tiêu”. Còn theo Nguyễn Thượng Thái (2007) đã định nghĩa: “Marketing-mix là tập hợp các công cụ marketing trong tầm tay mà một doanh nghiệp có thể sử dụng để tác động vào thị trường mục tiêu nhằm đạt được mục tiêu đặt ra”. Jerome McCarthy đã công bố mô hình marketing-mix đầu tiên trên thế giới vào năm 1964. Cụ thể đó là mô hình 4P, bao gồm sản phẩm, giá cả, kênh phân phối và truyền thông.
Mô hình này vẫn còn vẹn nguyên giá trị và được sử dụng rộng rãi đến ngày nay, cũng chính là nền tảng của marketing hiện đại. Tuy nhiên, khi xã hội ngày càng hiện đại, các dịch vụ cũng như sản phẩm phát triển đa dạng và phức tạp hơn, thì mô hình 4P dường như đã lạc hậu, không còn phù hợp với một số loại hình nhất định.