CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING DỊCH VỤ TRONG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 TỔNG QUAN VỀ MARKETING DỊCH VỤ TRONG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Marketing dịch vụ ngân hàng a. Marketing dịch vụ · Dịch vụ Trong nền kinh tế, dịch vụ giữ vị trí rất quan trọng và nó chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng sản phẩm quốc dân.Trong kinh tế học, dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất. Theo Philip Kotler cho rằng: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó.
Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất. Như vậy, dịch vụ là một quá trình hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mà không có sự thay đổi quyền sở hữu. Sản phẩm của dịch vụ có thể trong phạm vi hoặc vượt quá phạm vi của sản phẩm vật chất Dịch vụ có 4 đặc điểm nổi bật là: + Tính không hiện hữu. : Đây là đặc điểm cơ bản của dịch vụ.
Với đặc điểm này cho thấy dịch vụ là vô hình, không tồn tại dưới dạng vật thể.Tính không hiện hữu được biểu lộ khác nhau đối với từng loại dịch vụ. Tính không hiện hữu của dịch vụ gây nhiều khó khăn cho Marketing dịch vụ và cho việc nhận biết dịch vụ Luan van 9 + Tính không đồng nhất. Sản phẩm dịch vụ không tiêu chuẩn hóa được. Do dịch vụ chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khó kiểm soát bởi hoạt động cung ứng, các nhân viên cung cấp dịch vụ không thể tạo ra được dịch vụ như nhau trong những thời gian làm việc khác nhau.
Hay nói cách khác những dịch vụ cùng loại chúng không những khác nhau về lượng mà còn khác về phẩm cấp do dịch vụ bao qunah và kỹ năng nghề nghiệp khác nhau. + Tính không tách rời.Sản phẩm dịch vụ gắn liền với hoạt động sản xuất và phân phối chúng.Quá trình sản xuất gắn liền với việc tiêu dùng dịch vụ.Người tiêu dùng cũng tham gia vào hoạt động sản xuất cung cấp dịch vụ cho chính mình. + Tính không tồn trữ.Dịch vụ không thể tồn kho, không cất trữ, và không thể vận chuyển từ khu vực này tới khu vực khác.Dịch vụ không tồn trữ được như vậy nên việc sản xuất mua bán và tiêu dùng dịch vụ bị giới hạn bởi thời gian. Marketing diễn ra khắp mọi nơi, bao trùm trong nhiều lĩnh vực và có những quan điểm nhầm lẫn trong kinh doanh.
Vì vậy, xét ở các góc độ có nhiều định nghĩa về Marketing khác nhau. Theo quan điểm truyền thống “ Marketing là toàn bộ các hoạt động sản xuất kinh doanh vó liên quan trực tiếp đến dòng chuyển vận một cách tối ưu các loại hàng hóa hoặc dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng nhằm mục đích lợi nhuận.Marketing là toàn bộ những hoạt động của một doanh nghiệp nhằm xác định những nhu cầu chưa được thỏa mãn của khách hàng, những thị hiếu và đòi hỏi của họ. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp đưa ra những sản phẩm và dịch vụ phù hợp, nhằm đáp ứng, thỏa mãn những nhu cầu và đòi hỏi đó để hoàn thành mục tiêu của doanh nghiệp. Luan van 10 Theo Philip Kotler: “Marketing là hoạt động của con người hướng đến việc thỏa mãn nhu vầu và ước muốn thông qua các tiến trình trao đổi.” Theo Bristish Institute of Marketing “Marketing là chức năng quản lý công ty về mặt tổ chức và quản lý toàn bộ các hoạt động kinh doanh từ việc phát hiện ra nhu cầu và biến sức mua người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự về một mặt hàng cụ thể đến việc đưa những hàng hóa đó tới người tiêu thụ cuối cùng nhằm bảo đảm cho công ty thu được lợi nhuận như dự kiến”.
Từ định nghĩa trên, ta có thể nhận thấy rằng “Marketing là toàn bộ những hoạt động của một doanh nghiệp nhằm xác định những nhu cầu chưa được thỏa mãn của khách hàng, những thị hiếu và đòi hỏi của họ. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp đưa ra những sản phẩm và dịch vụ phù hợp, nhằm đáp ứng, thỏa mãn những nhu cầu và đòi hỏi đó để hoàn thành mục tiêu của doanh nghiệp. · Marketing dịch vụ. Marketing dịch vụ là sự phát triển lý thuyết chung của marketing trong lĩnh vực dịch vụ mà cho đến ngày nay vẫn chưa có định nghĩa nào là khái quát được đầy đủ Theo Philip Kotler: “Marketing dịch vụ đòi hỏi các giải pháp nâng cao chất lượng, năng suất dịch vụ, tác động làm thay đổi cầu, việc định giá cũng như phân phối.” Theo Krippendoir: “Marketing dịch vụ là quá trình thu nhận, tìm hiểu, đánh giá và thỏa mãn nhu cầu của thị trường mục tiêu đã lựa chọn và xác định bằng quá trình phân phối các nguồn lực của các tổ chức nhằm thỏa mãn nhu cầu đó.
Marketing được xem xét trong sự năng động của mối quan hệ qua lạigiữa các sản phẩm dịch vụ của Công ty và nhu cầu của người tiêu thụ và đối thủ cạnh tranh.” Luan van 11 Marketing dịch vụ là phương pháp tổ chức quản lý bằng quá trình thực hiện và thích nghi tính hệ thống với những quy luật thuộc các lĩnh vực kinh tế, xã hội.nhằm thỏa mãn nhu cầu của các thành viên tham gia đồng thời thực hiện những mục tiêu đã định, phù hợp với tiến trình phát triển của thực tại khách quan trong phạm vi nguồn lực được kiểm soát. Các chính sách marketing mix dịch vụ Mô hình phối thức tiếp thị dịch vụ bao gồm 7P: Sản phẩm (product); Giá (price); Phân phối (place); Xúc tiến,Truyền thông (promotion); Con người (People); Quy trình (process) và Môi trường dịch vụ (Physical). Trong 7P này thì 4P đầu xuất phát từ phối thức tiếp thị sản phẩm và 3P được mở rộng cho phù hợp với đặc điểm của lĩnh vực kinh doanh dịch vụ. * Sản phẩm: là điểm cốt lõi trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Nếu sản phẩm không tốt thì mọi nổ lực của các phối thức tiếp thị khác đều sẽ thất bại. * Giá: cách định giá của dịch vụ sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến mức độ hài lòng của khác hàng. *Phân phối: là một yếu tố khác tạo ra giá trị cho khách hàng. Không ai lại đi hàng chục cây số để đến một ngân hàng giao dịch, vì vậy địa điểm phù hợp sẽ tạo sự tiện lợi và giúp khách hàng tiết kiệm thời gian.Một nguyên tắc là vị trí càng gần khách hàng thì khả năng khách hàng đến sử dụng dịch vụ càng cao.
*Xúc tiến, truyền thông: nhằm tạo sự nhận biết cũng như cảm nhận ban đầu của khách hàng về các dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp. Để đảm bảo sự nhất quán và gia tăng tính hiệu quả của truyền thông thì mọi thông điệp truyền tải cần phải bám sát với định vị thương hiệu. * Con người: là phần mấu chốt trong việc thực hiện dịch vụ. Nếu một ngân hàng có những sản phẩm hấp dẫn, phù hợp với nhu cầu của khách hàng Luan van 12 mà nhân viên phục vụ quá kém thì cũng không tạo được sự hài lòng của khách hàng.
Sự ân cần và tươi cười luôn được đánh giá cao bởi khách hàng. * Quy trình: là một phần quan trọng khác của chất lượng dịch vụ. Vì đặc tính của dịch vụ là trừu tượng vì vậy quy trình sẽ giúp đảm bảo chất lượng và nối kết giữa các công đoạn trong quy trình cung ứng dịch vụ. Ngoài ra, quy trình dịch vụ còn giúp doanh nghiệp tiết kiệm khoảng thời gian chờ đợi của khách hàng và điều này tạo ra giá trị lớn, chẳng hạn một khách hàng không thể đời hàng giờ đồng hồ để đến lượt mình… * Môi trường dịch vụ: là một yếu tố khác ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng.
Đặc điểm của dịch vụ là sự trừu tượng nên khách hàng thường phải tìm các yếu tố “hữu hình” khác để quy chuyển trong việc đánh giá.2 Đặc điểm của dịch vụ huy động tiền gửi a. Khái niệm Trong nền kinh tế luôn tồn tại những người thừa vốn và những người thiếu vốn, có thể nói NHTM đóng vai trò điều hòa mâu thuẫn này bằng việc sử dụng các công cụ, nghiệp vụ của mình để huy động các nguồn vốn trong xã hội. Nghiệp cụ huy động vốn là các hoạt động thu hút các nguồn tiền nhàn rỗi của các cá nhân, tổ chức kinh tế, xã hội dưới dạng tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, phát hành các chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác tạo nên một nguồn tài chính được ngân hàng sử dụng để kinh doanh sinh lời và trả lại một phần lợi nhuận này cho người gửi thông qua công cụ lãi suất. Trong các hình thức huy động vốn của tổ chức tín dụng, huy động vốn tiền gửi là phương thức huy động vốn cổ xưa nhất và cho đến nay nó vẫn là hình thức huy động vốn quan trọng nhất về mặt kinh tế và chiếm tỉ lệ lớn nhất trong tổng nguồn vốn huy động ở mỗi tổ chức tín dụng.
Việc huy động vốn bằng nhận tiền gửi là một hình thức huy động vốn đặc trưng riêng có của các Luan van 13 tổ chức tín dụng và của các tổ chức khác được nhà nước cho phép hoạt động ngân hàng. Tại khoản 13, điều 4, luật các tổ chức tín dụng năm 2010, có hiệu lực từ ngày 01/01/2011, huy động tiền gửi hay còn gọi là hoạt động nhận tiền gửi được định nghĩa như sau: “Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận” b. Đặc điểm Đặc điểm chung của tiền gửi là phải được thanh toán khi khách hàng yêu cầu, ngay cả khi đó là tiền gửi có kỳ hạn chưa đến hạn. Vì vậy, ngân hàng thường khó dự tính được chính xác việc thay đổi quy mô và kết cấu của nguồn tiền gửi.Nhu cầu rút tiền của khách hàng, đặc biệt là đối tượng khách hàng cá nhân thường nhạy cảm và khó xác định.Ngân hàng phải đáp ứng nhu cầu thanh khoản, nhu cầu thanh toán của khách hàng bao gồm cả yêu cầu chi trả và vay hợp pháp.
Đồng thời phải đảm bảo tính thuận tiện, nhanh chóng trong quá trình chi trả.