CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN VÀ CHIẾN LƯỢC MARKETING HỖN HỢP 1. Tổng quan về hoạt động môi giới chứng khoán 1. Công ty chứng khoán 1. Khái niệm về công ty chứng khoán Tại mỗi quốc gia và từng quan theo quan điểm khác nhau thì có khá nhiều định nghĩa về công ty chứng khoán (CTCK).
Tuy nhiên, tại Việt Nam có một định nghĩa đã được chuẩn hoá về CTCK tại Điều 59 Luật Chứng khoán năm 2006 như sau: CTCK là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, được thành lập theo pháp luật Việt Nam để kinh doanh chứng khoán theo giấy phép kinh doanh do Ủy ban chứng khoán Nhà nước (UBCK NN) cấp. CTCK được thực hiện một số hoặc toàn bộ nghiệp vụ kinh doanh theo giấy phép kinh doanh do UBCKNN cấp: - Môi giới chứng khoán. - Tự doanh chứng khoán. - Bảo lãnh phát hành chứng khoán.
- Tư vấn đầu tư chứng khoán. Phân loại công ty chứng khoán và vai trò của công ty chứng khoán Phân loại CTCK Có nhiều tiêu chỉ để phân loại CTCK nhưng trên thế giới hiện nay có 2 mô hình phổ biến về CTCK dựa trên tiêu chí mức độ chuyên môn hóa của CTCK: * Mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán: Theo mô hình này, hoạt động kinh doanh chứng khoán sẽ do các CTCK độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnh vực chứng khoán đảm nhận, các ngân hàng không được tham gia vào kinh doanh chứng khoán (CK). Mô hình này được áp dụng ở nhiều nước như: Mỹ, Nhật, Hàn 4 Quốc, Canada… Ưu điểm của mô hình này là hạn chế được rủi ro trong hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán (TTCK) phát triển. Tuy nhiên khả năng san bằng rủi ro trong kinh doanh bị hạn chế.
Thời gian gần đây, các nước áp dụng mô hình này có xu hướng giảm dần sự hạn chế đối với ngân hàng thương mại trong nghiệp vụ đầu tư kinh doanh CK. * Mô hình công ty đa năng. Có 2 loại công ty đa năng: + Công ty đa năng 1 phần: ở đây các ngân hàng muốn kinh doanh CK phải thành lập công ty con kinh doanh độc lập. + Công ty đa năng hoàn toàn: các ngân hàng thương mại được phép kinh doanh tổng hợp (CK, bảo hiểm, tiền tệ).
Ưu điểm của mô hình này là sự kết hợp đa năng rất cao, do đó, giảm bớt rủi ro trong hoạt động kinh doanh nói chung, có khả năng chịu đựng các biến động của TTCK. Tuy nhiên nếu thị trường có biến động mạnh thì hoạt động kinh doanh sẽ bị ảnh hưởng nếu không tách bạch các nghiệp vụ kinh doanh. Các nước Châu Âu, Anh, Úc… thường áp dụng mô hình này. Việt Nam hiện nay đang áp dụng mô hình đa năng một phần.
Vai trò của CTCK CTCK có vai trò đặc biệt quan trọng trên TTCK, đối với từng chủ thể khác nhau trên TTCK, CTCK có vai trò khác nhau: Đối với các tổ chức phát hành: Các tổ chức phát hành tham gia TTCK với mục tiêu chính là huy động vốn thông qua việc phát hành các chứng khoán. Với nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán, các CTCK có vai trò tạo ra cơ chế huy động vốn phục vụ các nhà phát hành. Mặt khác, một trong những nguyên tắc hoạt động của TTCK là nguyên tắc trung gian. Nguyên tắc này đòi hỏi các nhà đầu tư và những nhà phát hành không được mua bán trực tiếp chứng khoán mà phải thông qua các trung gian mua bán.
Các CTCK sẽ thực hiện công việc này và đã tạo ra cơ chế huy động vốn cho nền 5 kinh tế thông qua TTCK sơ cấp. Đối với nhà đầu tư Thông qua các hoạt động như: môi giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư, CTCK có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, do đó nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư. Với hàng hóa thông thường, mua bán trung gian sẽ làm tăng chi phí cho người mua và người bán. Tuy nhiên, đối với TTCK, sự biến động thường xuyên giá cả chứng khoán cũng như mức độ rủi ro cao sẽ làm cho nhà đầu tư tốn kém chi phí, công sức và thời gian tìm hiểu thông tin trước khi quyết định đầu tư.
Nhưng thông qua các CTCK, với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp các nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách hiệu quả. Đối với thị trường chứng khoán: Công ty chứng khoán có 2 vai trò chính: Thứ nhất, CTCK góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường. Giá cả chứng khoán là do thị trường quyết định. Tuy nhiên, để đưa ra mức giá cuối cùng, người mua và người bán phải thông qua các CTCK vì họ không được tham gia trực tiếp vào quá trình mua bán.
Các CTCK là những thành viên của thị trường, do vậy họ cũng góp phần tạo lập giá cả thị trường thông qua hình thức đấu giá. Trên thị trường sơ cấp, các CTCK cùng với các nhà phát hành đưa ra mức giá đầu tiên. Chính vì vậy, giá cả của mỗi loại chứng khoán giao dịch đều có sự tham gia định giá của các CTCK. Bên cạnh đó, các CTCK còn thể hiện vai trò lớn hơn khi tham gia điều tiết thị trường.
Để bảo vệ những khoản đầu tư của khách hàng và bảo vệ lợi ích của chính mình, nhiều CTCK đã giành những tỷ lệ nhất định các giao dịch để thực hiện vai trò bình ổn thị trường. Thứ hai, CTCK góp phần làm tăng tính thanh khoản của tài sản tài chính. Trên thị trường sơ cấp, do thực hiện các hoạt động như bảo lãnh phát hành, bán đấu giár phần, các CTCK không những huy động một lượng vốn lớn đưa vào sản xuất kinh doanh cho nhà phát hành mà còn làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài 6 chính được đầu tư vì các chứng khoán qua đợt phát hành sẽ được mua bán trên thị trường thứ cấp. Điều này làm giảm rủi ro, tạo tâm lý yên tâm cho nhà đầu tư.
Trên thị trường thứ cấp, do thực hiện các giao dịch mua và bán, các CTCK giúp nhà đầu tư chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại. Những hoạt động đó giúp tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính vì tiền mặt là tài sản tài chính có tính thanh khoản cao nhất. Đối với các cơ quan quản lý thị trường. CTCK có vai trò cung cấp thông tin về TTCK cho các cơ quan quản lý thị trường.
Các CTCK thực hiện được vai trò này do họ vừa là người bảo lãnh phát hành cho các chứng khoán mới, vừa là trung gian mua bán chứng khoán và thực hiện các giao dịch trên thị trường. Việc cung cấp các thông tin vừa là quy định của hệ thống luật pháp, vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của các CTCK vì CTCK cần phải minh bạch và công khai trong hoạt động. Các thông tin CTCK có thể cung cấp bao gồm thông tin về các giao dịch mua, bán trên thị trường, thông tin về các cổ phiếu, trái phiếu và tổ chức phát hành, thông tin về các nhà đầu tư v.v…Nhờ các thông tin này, các cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát và chống lại các hiện tượng thao túng, lũng đoạn, bóp méo thị trường. Tóm lại, CTCK là một tổ chức chuyên nghiệp trên thị trường chứng khoán, có vai trò cần thiết và quan trọng đối với các nhà đầu tư, các nhà phát hành, đối với cơ quan quản lý thị trường và đối với TTCK nói chung.
Những vai trò này được thể hiện thông qua các nghiệp vụ của công ty chứng khoán. Các nghiệp vụ của công ty chứng khoán Các nghiệp vụ cơ bản Môi giới: Môi giới chứng khoán là việc công ty chứng khoán làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng. Hoạt động môi giới chứng khoán là hoạt động dịch vụ quan trọng của CTCK, nó đem lại phần lớn thu nhập (bình quân từ 30- 50% tổng thu nhập của CTCK) và tạo ra một cơ sở khách hàng quan trọng cho các CTCK khi thực hiện phân phối các loại chứng khoán mới phát hành trong các đợt 7 bảo lãnh phát hành. Các CTCK khi thực hiện hoạt động môi giới phải tuân thủ nguyên tắc minh bạch, công khai, vì quyền lợi của khách hàng.
Đồng thời không được đưa ra các ý kiến tư vấn mang tính chất khẳng định về tiềm năng lợi nhuận hoặc các tin đồn nhằm thu hút khách hàng vào các mục đích riêng. Thông qua hoạt động môi giới, CTCK sẽ chuyển đến khách hàng các sản phẩm, dịch vụ tư vấn đầu tư và kết nối giữa người mua và người bán CK. Tự doanh: Tự doanh là việc CTCK mua bán CK cho chính mình. Hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán được thực hiện qua cơ chế giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC.
Tại một số thị trường vận hành theo cơ chế khớp giá, hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán thực hiện thông qua hoạt động tạo lập thị trường. Lúc này CTCK đóng vai trò là nhà tạo lập thị trường, nắm giữ một loại chứng khoán nhất định và thực hiện mua bán chứng khoán với khách hàng để hưởng chênh lệch giá. Mục đích của hoạt động tự doanh là nhằm thu lợi nhuận cho chính công ty thông qua hành vi mua bán chứng khoán với khách hàng. Nghiệp vụ này hoạt động song hành với hoạt động môi giới chứng khoán, vừa thực hiện lệnh của khách hàng đồng thời cũng thực hiện lệnh cho chính mình.
Vì vậy trong quá trình hoạt động dễ dẫn đến xung đột lợi ích của khách hàng và của bản thân CTCK. Vì vậy luật chứng khoán quy định phải tách biệt rõ nghiệp vụ môi giới và nghiệp vụ tự doanh, CTCK phải ưu tiên thực hiện lệnh khách hàng trước lệnh tự doanh. CTCK cần phải có nguồn vốn lớn, đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn, khả năng phân tích và đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý. Có hai hình thức giao dịch trong hoạt động tự doanh: giao dịch trực tiếp và giao dịch gián tiếp.
Giao dịch trực tiếp là giao dịch thỏa thuận trực tiếp giữa khách hàng và CTCK, còn giao dịch gián tiếp là giao dịch đặt lệnh thông qua Sở giao dịch chứng khoán.