Chương 1: Tổ ng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận Chương 2: Phương pháp và thiế t kế nghiên cứu. Chương 3: Thực traṇ g hoạt động marketing tại Công ty Cổ phần Nhựa Tân Phú Chương 4: Đề xuấ t môṭ số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động marketing taị Công ty Cổ phẩn Nhựa Tân Phú. 5 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MARKETING 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Sự phát triển của nền kinh tế và sự đa dạng của các loại hình kinh doanh, các mặt hàng kinh doanh, đòi hỏi các công ty, doanh nghiệp ngoài việc quan tâm, đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh, phải chú trọng hơn nữa tới hoạt động markeing tại đơn vị mình.
Mặc dù, marketing đã vào Việt Nam đƣợc khá lâu (trƣớc Giải phóng miền Nam năm 1975), và cũng có nhiều công ty thực hiện các hoạt động marketing hay áp dụng các chiêu thức marketing của các công ty trên thế giới nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị mình, tuy nhiên do những nhìn nhận chƣa đúng về marketing và tính đặc thù của sản phẩm sản xuất kinh doanh, môi trƣờng hoạt động, tình hình tài chính nên các doanh nghiệp gặp không ít khó khăn. Để khắc phục tình trạng này, nhiều đơn vị cũng đã có những nghiên cứu về hoạt động marketing tuy nhiên vẫn còn sơ sài, và đặc biệt với Công ty Cổ phần Nhựa Tân Phú, việc nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động marketing vẫn còn là mảng trống chƣa đƣợc thực hiện. Một số nghiên cứu về hoạt động marketing tại doanh nghiệp có thể đƣợc hệ thống lại nhƣ sau: + Nghiên cứu của Dr. Zeki Atil BULUT (2013): Nghiên cứu về tác động của hoạt động nghiên cứu marketing tới việc thực hiện marketing trong các công ty dệt may, đƣợc tiến hành nghiên cứu ở thành phố Denizli.
Mục đích của nghiên cứu là nhằm xác định hoạt động nghiên cứu marketing ảnh hƣởng nhƣ thế nào tới hiệu quả của marketing trong các công ty dệt may. Kết quả thực nghiệm chỉ ra rằng các phƣơng tiện thu thập thông tin marketing và 6 z các loại thông tin nghiên cứu marketing có tác động khác nhau đế hiệu quả marketing,hơn nữa nghiên cứu cũng chỉ ra rằng ngân sách nghiên cứu có tác động tích cực đếnn hiệu quả marketing. + Luận văn thạc sỹ của tác giả Võ Nhật Hiếu (2014) với đề tài: “Hoạt động marketing mix tại Công ty cổ phần nhựa Châu Âu”. Tác giả hệ thống cơ sở lý luận về marketing trong doanh nghiệp và marketing mix đối với doanh nghiệp ngành nhựa nguyên liệu.
Tác giả phân tích thực trạng và đƣa ra đánh giá về hoạt động marketing mix tại Công ty cổ phẩn nhựa Châu Âu, chỉ ra những kết quả đạt đƣợc, điểm mạnh và những hạn chế còn tồn tại. Từ đó, tác giả đƣa định hƣớng về hoạt động marketing cho đơn vị và một số giải pháp hoàn thiện hoạt động marketing mix tại đơn vị. Giải pháp về sản phẩm: đầu tƣ trang thiết bị máy móc, con ngƣời để sáng tạo các giải pháp công nghệ, tối ƣu hóa quá trình sản xuất, phát triển sản phẩm mới. Giải pháp về phát triển kênh phân phối, tác giả đƣa ra pháp cụ thể cho cả hai thị trƣờng: trong nƣớc và quốc tế.
Tích cực tham gia các chƣơng trình hội nghị, hội thảo, hội chợ triển lãm và thuê công ty quảng cáo chuyên nghiệp thiết kế nội dung, thông điệp quảng cáo là giải pháp xúc tiến hỗn hợp – truyền thông mà tác giả đề xuất. Ngoài ra tác giả còn đƣa ra các giải pháp về nhân sự, giải pháp nâng cao nhận thức về vai trò quan trọng của hoạt động marketing và đề xuất mô hình tổ chức hoàn thiện bộ máy marketing cho công ty. + Luận văn Thạc sỹ của Ngô Thanh Vũ (2012), Hoàn thiện marketing mix tại chi nhánh Viettel Bình Định –Tập đoàn Viễn thông quân đội.Tác giả đƣa ra khái niệm marketing, marketing mix, marketing dịch vụ, tiến trình marketing của doanh nghiệp theo quan niệm của Philip Kotler bao gồm: Phân tích cơ hội thị trƣờng, lựa chọn thị trƣờng mục tiêu, hoạch định marketing mix, thực hiện và kiểm tra marketing. Tác giả sử dụng ma trận SWOT để phân tích cơ hội thị trƣờng, đánh giá thị trƣờng thông tin di động từ đó lựa 7 z chọn thị trƣờng mục tiêu và đƣa ra các chính sách marketing mix tại công ty.
Tuy nhiên, tác giả chƣa làm rõ cơ sở lựa chọn thị trƣờng mục tiêu và cơ sở đề ra chính sách marketing của công ty. + Luận văn Thạc sĩ quản trị kinh doanh, Học viện công nghệ bƣu chính viễn thông của tác giảNguyễn Kim Liên (2014), “Hoạt động marketing đối với dịch vụ chứng thực chữ kỹ số tại trung tâm điện toán truyền số liệu khu vực 1”.Tác giả đƣa ra nội dung dịch vụ, marketing và marketing dịch vụ, hệ thống marketing mix bao gồm 7P: Sản phẩm,giá cả, phân phối, xúc tiến, con ngƣời, yếu tố hữu hình và quy trình dịch vụ. Tác giả đƣa ra hoạt động marketing dịch vụ trong doanh nghiệp bao gồm nội dung phân tích cơ hội thị trƣờng, lựa chọn thị trƣờng mục tiêu, hoạch định chiến lƣợc marketing và triển khai các chính sách marketing –mix. Từ đó tác giả đánh giá kết quả đạt đƣợc, tồn tại và nguyên nhân hoạt động marketing tại công ty, đƣa ra giải pháp hoàn thiện hoạt động marketing tại Trung tâm điện toán truyền số liệu khu vực 1.
Ngoài ra, còn một số các nghiên cứu, các bài báo nghiên cứu, phân tích về hoạt động marketing tại một số doanh nghiệp của các tác giả khác. Từ những nghiên cứu của các tác giả đã thực hiện, có thể thấy hoạt động marketing đóng vai trò quan trọng trong các doanh nghiệp nhƣ thế nào và đó cũng chính là một phần lý do để tác giả hƣớng tới đề tài đã chọn cho luận văn này. Cơ sở lý luận về marketing 1. Khái niệm marketing Vào đầu thế kỷ XX, thuật ngữ “Marketing” lần đầu tiên xuất hiện tại Mỹ, sau đó, đến khoảng năm 1944, đƣợc đƣa vào Từ điển Tiếng anh.
Ngày nay, nó đã đƣợc sử dụng rộng rãi trên hầu khắp các quốc gia trên thế giới và 8 z nó dƣờng nhƣ đã trở thành một hoạt động không thể thiếu trong hoa ̣t đô ̣ng kinh doanh của các công ty, tổ chức. Qua thời gian, nhiều nghiên cứu của các tổ chức, cá nhân đã đƣa ra nhiều định nghĩa khác nhau về marketing: - Định nghĩa của Viện Marketing Anh: “Marketing là quá trình tổ chức và quản lý toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh từ việc phát hiện ra và biến sức mua của người tiêu dùng thành nhu cầu thực sự về một mặt hàng cụ th ể, đến sản xuất và đưa hàng hóa đến với người tiêu dùng cuối cùng nhằm đảm bảo cho công ty lợi nhuận như dự kiến.” - Định nghĩa của Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ – American Marketing Association (AMA - 2008): “Marketing là một nhiệm vụ trong cơ cấu tổ chức và là một tập hợp các tiến trình để nhằm tạo ra, trao đổi, truyền tải các giá trị đến các khách hàng, và nhằm quản lý quan hệ khách hàng bằng những cách khác nhau để mang về lợi ích cho tổ chức và các cổ đông. Ansoff, một chuyên gia nghiên cứu Marketing của LHQ: “ Marketing là khoa học điều hành toàn bộ hoạt động kinh doanh kể từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ, nó căn cứ vào nhu cầu biến động của thị trường hay nói khác đi là lấy thị trường làm định hướng”. - Định nghĩa của Philip Kotler – cha đẻ của khoa học marketing: “Marketing là một quá trình quản lý xã hội, nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có được những gì họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra và trao đổi những sản phẩm có giá trị với những người khác.” Các định nghĩa về marketing của các cá nhân, tổ chức đƣa ra đều bao hàm tƣơng đối đầy đủ các nội dung của hoạt động marketing, dựa trên các khái niệm cốt lõi trong marketing: nhu cầu, mong muốn và yêu cầu, sản phẩm, giá trị, chi phí và sự hài lòng, trao đổi, giao dịch và các mối quan hệ, thị trƣờng.
Vai trò của marketing Dƣới sức ép của nền kinh tế thị trƣờng, hội nhập kinh tế thế giới, đòi hỏi các doanh nghiệp phải nhanh nhạy với những biến động của thị trƣờng, nhằm đáp ứng, thỏa mãn đó từ đó giúp cho doanh nghiệp tồn tại vững chắc trên thị trƣờng.Giờ đây, marketing không chỉ là một chức năng trong doanh nghiệp nhƣ các chức năng khác nhƣ tài chính hay nhân sự, mà marketing là nhƣ là một triết lý dẫn dắt hoạt động của doanh nghiệp, từ khâu nghiên cứu thị trƣờng trƣờng để phát hiện ra thị trƣờng tiềm năng, xác định thị trƣờng mục tiêu, nghiên cứu xác định nhu cầu và mong muốn của khách hàng về sản phẩm nhƣ đặc tính, hình thức cụ thể của sản phẩm đó, xác định mức chi trả của khách hàng đối với từng loại sản phẩm từ đó định hƣớng các hoạt động nhằm thỏa mãn những nhu cầu đó.Sau khi sản phẩm đƣợc sản xuất, việc thực hiện các hoạt động định giá, quảng bá hình ảnh, quảng cáo, xúc tiến bán hàng, phân phối sản phẩm là những chức năng cơ bản của tiêu thụ hàng hóa – lúc này marketing lại đóng vai trò mạnh mẽ hơn nữa. Để rõ hơn vai trò của marketing, ta xét sự tác động của marketing qua các mặt sau: - Marketing là cầu nối giữa doanh nghiệp và khách hàng giúp cả hai tìm đến nhau. Cụ thể Marketing giúp doanh nghiệp nắm bắt đƣợc nhu cầu, thị hiếu phong phú, phức tạp và liên tục thay đổi của khách hàng từ đó cung cấp cho doanh nghiệp những công cụ, biện pháp để phục vụ và thỏa mãn nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất. - Marketing còn là công cụ để các nhà kinh doanh hoạch định chiến lƣợc kinh doanh, tìm ra phƣơng hƣớng, con đƣờng hoạt động trong tƣơng lai.Từ đó giúp doanh nghiệp thích ứng với những biến động thƣờng xuyên trên thị trƣờng, tăng cƣờng khả năng cạnh tranh, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.Chính việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng một cách tốt nhất sẽ giúp doanh nghiệp có thể tồn tại lâu dài và vững chắc trên thị trƣờng.
10 z - Marketing góp phần giải quyết các mâu thuẫn trong quá trình sản xuất và tái sản xuất. Đó là mâu thuẫn giữa ngƣời sản xuất và ngƣời tiêu dùng, ngƣời bán và ngƣời mua, giữa cung-cầu, giữa giá cả và giá trị hàng hóa. -Marketing giúp cung cấp những lợi ích về mặt kinh tế thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Đó là: lợi ích về hình thức sản phẩm, về địa điểm, về thời gian, về sở hữu và về thông tin.