CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP Để làm rõ cơ sở lý luận về xây dựng chiến lược kinh doanh của Vinaconex, chương này đề cập đến các lý thuyết chiến lược, quản trị chiến lược đối với hoạt động của doanh nghiệp thông qua các công cụ, mô hình xây dựng và hoạch định chiến lược, mô hình phân tích môi trường ngành. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luậnvề chiến lược kinh doanh Ở mức độ tổng quát, nhận thấy sự cần thiết của công tác quản trị chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp tại Việt Nam, rất nhiều tác giả trong nước đã nghiên cứu về vấn đề này. Ở mức độ doanh nghiệp, đây cũng là trăn trở của nhiều nhà lãnh đạo, nhà quản trị. Theo tìm hiểu của tác giả, một số công trình nghiên cứu ở mức độ tổng quát về chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp như: - Nguyễn Đình Nhơn (2007), Chiến lược kinh doanh của những tập đoàn kinh tế thế giới, NXB.
Tổng hợp Đồng Nai,Đồng Nai. - Viện nghiên cứu và đào tạo về quản lý, Hội KH-KT Việt Nam (2005),Xây dựng và triển khai chiến lược kinh doanh,NXB.LĐXH, Hà Nội. - Chương trình phát triển Liên hợp quốc, UNDP (2007), Top 200: Chiến lược công nghiệp của các doanh nghiệp lớn, NXB. Hồng Đức, Hà Nội.
Các tài liệu nêu trên chỉ dừng lại ở các cơ sở lý luận mang tính tổng quát và phần lớn là cung cấp thông tin tham khảo. Phạm vi nghiên cứu của các tác giả trên đều rộng khắp cả nước và quốc tế, liên quan tới các doanh 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.(VINACONEX) nghiệp trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực.Tuy nhiên cũng đã hệ thống hóa được những nghiên cứu về chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần gợi mở các hướng nghiên cứu cho tác giả. Ở mức độ doanh nghiệp, tác giả tham khảo thêm các nghiên cứu về chiến lược kinh doanh của các công ty tại Việt Nam, có những nét tương đồng về quy mô, lĩnh vực kinh doanh như: - Nguyễn Hữu Sơn, 2014. Chiến lược kinh doanh của Công ty cổ phần sữa Việt Nam – Vinamilk.
Luận văn thạc sỹ. Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội. - Trần Thị Mỹ Dung, 2014. Chiến lược kinh doanh cho Công ty cổ phần Sông Đà - Thăng Long trong lĩnh vực kinh doanh nhà ở.
Luận văn thạc sỹ. Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội. Theo tìm hiểu của tác giả, các nghiên cứu trên cũng bước đầu đưa ra được những lý luận về chiến lược kinh doanh của một doanh nghiệp cũng như các giải pháp chiến lược có tính tham khảo. Tuy nhiên ở mức độ nghiên cứu của luận văn thạc sỹ, các đề xuất cũng chỉ mang tính chất sơ lược, đặc biệt chưa phân tích được các cơ sở lý luận để xây dựng mới chiến lược kinh doanh mà hầu hết thiên về các đề xuất hoàn thiện chiến lược.
Liên quan trực tiếp tới công tác hoạch định chiến lược tại Vinaconex, năm 2008, tư vấn Credit Suisse (Thụy Sỹ) cũng đã nghiên cứu và đưa ra bản đề án phát triển tổng công ty giai đoạn 2008-2015. Đề án tập trung vào việc xây dựng chiến lược phát triển, phương án tái cơ cấu doanh nghiệp, hoàn thiện mô hình quản trị, xây dựng phương án tài chính và lựa chọn nhà đầu tư chiến lược. Đây là tài liệu nghiên cứu quan trọng, cơ sở để Vinaconex đề ra chiến lược kinh doanh của đơn vị trong giai đoạn 2011-2015. Tuy nhiên thời gian nghiên cứu của bản đề án có bối cảnh cách đây gần 10 năm, bên cạnh đó 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.(VINACONEX) các giải pháp hầu hết tập trung vào giải pháp tái cơ cấu tài chính để vượt qua giai đoạn khó khăn ban đầu chứ chưa xây dựng được chiến lược kinh doanh bài bản, hệ thống.
Tóm lại, trên cơ sở tìm hiểu một số tài liệu nghiên cứu về chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp Việt và một số tài liệu khác có liên quan, tác giả nhận thấy việc xây dựng một chiến lược kinh doanh tại doanh nghiệp lớn trong ngành xây dựng như Vinaconex trong giai đoạn 2015-2020 là cần thiết và chưa được nghiên cứu. Khái quát về chiến lược kinh doanh, công tác hoạch định chiến lược và đánh giá thực thi chiến lược 1. Khái quát về chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm về chiến lược kinh doanh Thuật ngữ "chiến lược” có nguồn gốc sâu xa từ quân sự, xuất phát từ “strategos” có thể hiểu là vai trò của vị tướng trong quân đội.
Về sau nó phát triển thành “Nghệ thuật của tướng lĩnh”- nói đến các kỹ năng hành xử và tâm lý của tướng lĩnh. Trong lịch sử loài người đã có rất nhiều các nhà lý luận quân sự như Tôn Tử, Khổng Minh, Napoleon. đã đề cập về chiến lược trên nhiều góc độ khác nhau. Thuật ngữ “chiến lược” là sự kết hợp của từ chiến (戰), nghĩa là chiến đấu, tranh giành và từ lược (略), nghĩa là mưu, tính.
Như vậy, theo nguyên gốc, chiến lược là những mưu tính nhằm chiến đấu và quan trọng hơn là để giành chiến thắng. Về sau, thuật ngữ chiến lược được sử dụng trong lĩnh vực kinh tế-xã hội, ban đầu để chỉ cách thức hợp tác kinh doanh, cách đấu tranh trên thương trường. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.(VINACONEX) Từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX, chiến lược được ứng dụng vào lĩnh vực kinh doanh và thuật ngữ "Chiến lược kinh doanh" ra đời. Quan niệm về chiến lược kinh doanh phát triển dần theo thời gian và người ta tiếp cận nó theo nhiều cách khác nhau.
Năm 1962, chiến lược được Chandler định nghĩa như là “việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng một chuỗi các hành động cũng như sự phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu này”(Chandler, A. Strategy and Structure, 1962). Cho đến những năm 1980 khi mà môn học quản trị chiến lược đã trở nên chín muồi, Quinn đã đưa ra định nghĩa có tính khái quát hơn: “Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách, và các chuỗi hành động vào một tổng thẻ được cố kết một cách chặt chẽ” (Quinn, J. Strategies for Change: Logical Incrementalism.
Homewood, Illinois, Irwin). Sau đó, Johnson và Scholes định nghĩa lại chiến lược trong điều kiện môi trường có rất nhiều những thay đổi nhanh chóng: “Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức về dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các nguồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan” (Johnson, G. Exploring Corporate Strategy, 5th Ed. Prentice Hall Europe).
Theo định nghĩa này, chiến lược của một doanh nghiệp được hình thành để trả lời các câu hỏi sau: - Hoạt động kinh doanh sẽ diễn ra ở đâu trong dài hạn? (định hướng). - Hoạt động kinh doanh sẽ cạnh tranh trên thị trường sản phẩm nào và phạm vi các hoạt động? (thị trường, phạm vi hoạt động). 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. - Nguồn lực nào (kỹ năng, tài sản, tài chính, nhân sự, công nghệ, thương hiệu…) cần thiết để tạo ra lợi thế cạnh tranh? (nguồn lực).
- Các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp? (môi trường). Từ năm 1980, các công trình của Michael Porter về chiến lược kinh doanh đã thu hút sự chú ý của nhiều doanh nghiệp. Theo Michael Porter – Cha đẻ của thuyết Chiến lược Cạnh tranh: “Chiến lược là việc tạo ra một sự hài hòa giữa các hoạt động của một công ty. Sự thành công của chiến lược chủ yếu dựa vào việc tiến hành tốt nhiều việc… và kết hợp chúng với nhau… cốt lõi của chiến lược là “lựa chọn cái chưa được làm”.
Theo cách tiếp cận này, chiến lược là tạo ra sự khác biệt trong cạnh tranh, tìm và thực hiện cái chưa được làm (what not to do). Bản chất của chiến lược là xây dựng được lợi thế cạnh tranh (competitive advantages), chiến lược chỉ tồn tại trong các hoạt động duy nhất (unique activities). Chiến lược là xây dựng một vị trí duy nhất và có giá trị tác động một nhóm các hoạt động khác biệt.Để có được chiến lược cũng như để tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có ba dạng định vị cơ bản: - Định vị dựa trên sự đa dạng các hoạt động (varieties based): Đó là sự lựa chọn một hay một nhóm các hoạt động trong một ngành kinh doanh trên cơ sở việc phân đoạn các hoạt động kinh doanh. - Định vị dựa trên nhu cầu (needs based): Đó là việc lựa chọn nhóm khách hàng có nhu cầu đồng nhất trên cơ sở việc phân đoạn thị trường.
- Định vị dựa trên khả năng tiếp cận của khách hàng đối với một mặt hàng hay lĩnh vực kinh doanh (access based): Đó là cách định 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.(VINACONEX) vị dựa trên tiêu chí vị trí địa lý hoặc khả năng thanh toán của khách hàng. Dù tiếp cận theo cách nào thì bản chất của chiến lược kinh doanh vẫn là phác thảo hình ảnh tương lai của doanh nghiệp trong lĩnh vực hoạt động và khai thác. Theo cách hiểu này, chiến lược kinh doanh được dùng theo 3 ý nghĩa phổ biến nhất: - Xác định các mục tiêu dài hạn cơ bản của doanh nghiệp. - Đưa ra các chương trình hành động tổng quát.
- Lựa chọn các phương án hành động, triển khai phân bố tài nguyên nguồn lực để thực hiện các mục tiêu đó. Từ năm 1990 đến nay, quản trị chiến lược đã trở nên phổ biến trong kinh doanh hiện đại.Các quyết định và hành động gắn kết với nhau thành hệ thống hướng tới mục tiêu thành công lâu dài và bền vững. Vì vậy, quản trị chiến lược sẽ đặt các nhà quản trị trước sự lựa chọn giữa thành tích ngắn hạn với thành công dài hạn, giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài. của doanh nghiệp.
Quản trị chiến lược là hệ thống nhỏ trong hệ thống lớn – hệ thống quản trị doanh nghiệp, gắn chặt với quản trị tác nghiệp và quản trị rủi ro. Quản trị chiến lược kinh doanh nói chung và trong doanh nghiệpnói riêng được phân chia thành 3 giai đoạn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau gồm (1) hoạch định chiến lược; (2) thực thi chiến lược; (3) kiểm soát chiến lược. Các loại hình chiến lược kinh doanh a. Chiến lược kết hợp Chiến lược sản xuất kinh doanh kết hợp phác thảo, dựa trên phân tích, dự báo các yếu tố môi trường ngoại vi và nội vi để phát hiện các cơ hội – nguy cơ, điểm mạnh – yếu.