phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo, tiểu luận gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chiến lƣợc kinh doanh cho ngân hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Phân tích chiên lƣợc kinh doanh cho VPBank Chi nhánh Hà Tĩnh Chƣơng 3: Các giải pháp và kiến nghị nhằm thực hiện chiến lƣợc kinh doanh của Chi nhánh VPBank Hà Tĩnh 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƢỢC KINH DOANH CHO NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Lý thuyết về chiến lƣợc kinh doanh 1.1 Khái niệm chiến lược kinh doanh Thuật ngữ chiến lƣợc đƣợc hình thành trong lĩnh vực quân sự để chỉ những kỹ năng và nghệ thuật sử dụng các lực lƣợng quân sự của những nhà chỉ huy, những quyết định kế hoạch, hoạt động tầm cỡ lớn, có tác động bản lề nhằm xoay chuyển tình thế, mang lại có lợi cho một bên tham chiến để giành thắng lợi cuối cùng. Trong cuộc chiến, chiến lƣợc mang tính nghệ thuật nhiều hơn khoa học, “chiến lƣợc là nghệ thuật chỉ huy các phƣơng tiện để chiến thắng” hoặc “chiến lƣợc là nghệ thuật để chiến đấu ở vị trí ƣu thế”. Về sau, thuật ngữ chiến lƣợc đƣợc sử dụng trong nhiều lĩnh vực bao gồm cả kinh tế, ban đầu để chỉ cách thức hợp tác kinh doanh, cách đấu tranh trên thƣơng trƣờng nhƣng có thể hiểu chiến lƣợc là chƣơng trình hành động, kế hoạch hành động đƣợc thiết kế để đạt đƣợc một mục tiêu cụ thể, là tổ hợp các mục tiêu dài hạn và các biện pháp, các cách thức, con đƣờng đạt đến các mục tiêu đó. Theo Chandler “Chiến lƣợc kinh doanh của một doanh nghiệp là việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng một chuỗi các hành động cũng nhƣ sự phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu này”.
Theo Bruce Henderson, viết rằng “Chiến lƣợc là sự tìm kiếm thận trọng một kế hoạch hành động để phát triển và kết hợp lợi thế cạnh tranh của tổ chức. Những điều khác biệt giữa bạn và đối thủ cạnh tranh là cơ sở cho lợi thế của bạn”. 7 Michalael Porter tán thành nhận định của Henderson “Chiến lƣợc cạnh tranh liên quan đến sự khác biệt. Đó là việc lựa chọn cẩn thận một chuỗi hoạt động khác biệt để tạo ra một tập hợp giá trị độc đáo.
Nhìn chung các khái niệm về chiến lƣợc đều bao hàm các nội dung sau: Xác định chính xác mục tiêu cần đạt , xác định con đƣờng hay phƣơng thức để đạt mục tiêu và định hƣớng phân bổ nguồn lực để đạt đƣợc mục tiêu lựa chọn. Nhƣ vậy thông qua các quan điểm nêu trên chúng ta có thể hiểu “Chiến lƣợc là định hƣớng kinh doanh nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề ra của tổ chức”.2 Đặc trưng của chiến lược kinh doanh - Chiến lƣợc kinh doanh là sản phẩm chủ quan của quá trình nhận thức, do đó nó chỉ mang tính chất định hƣớng. Khi triển khai chiến lƣợc phải kết hợp giữa chiến lƣợc và sách lƣợc, giữa mục tiêu chiến lƣợc và mục tiêu tình thế. - Chiến lƣợc mang tính liên tục và kế thừa, đảm bảo hiệu quả hoạt động cao cho cả chu kỳ sống, đồng thời đảm bảo cho tổ chức vận dụng kết hợp các yếu tố môi trƣờng với các nguồn lực nội bộ làm cho các định hƣớng chiến lƣợc và kế hoạch vừa quán triệt tính tiên tiến lại vừa khả thi.
- Chiến lƣợc mang tƣ tƣởng tiến công, giành ƣu thế trong cạnh tranh. - Chiến lƣợc kinh doanh thƣờng xây dựng trong thời kỳ dài, thƣờng là cho dài hạn và độ dài của nó phụ thuộc vào chu kỳ kinh doanh.3 Vai trò của chiến lược kinh doanh - Chiến lƣợc kinh doanh giúp tổ chức nhận rõ mục đích, hƣớng đi của mình trong từng thời kỳ, làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của tổ chức. Nó giúp tổ chức có thể chủ động hơn thay vì bị động vạch rõ tƣơng lai của mình. - Chiến lƣợc kinh doanh đƣợc đƣa ra sẽ làm cho mọi thành viên của tổ chức thấu hiểu đƣợc những việc phải làm và cam kết thực hiện nó.
Điều đó có 8 thể tạo sự ủng hộ và phát huy năng lực sẵn có của cán bộ công nhân viên trong tổ chức, làm rõ trách nhiệm của từng cá nhân. - Chiến lƣợc kinh doanh giúp tổ chức khai thác những ƣu thế cạnh tranh trên thƣơng trƣờng để tạo nên lợi thế cạnh tranh, qua đó giúp cho các thành viên trong tổ chức có thái độ tích cực với những sự thay đổi từ môi trƣờng bên ngoài. - Chiến lƣợc kinh doanh giúp tổ chức sử dụng hiệu quả tài sản vô hình và hữu hình. - Chiến lƣợc kinh doanh là cơ sở, căn cứ để lựa chọn phƣơng án kinh doanh, phƣơng án đầu tƣ, đổi mới công nghệ, mở rộng thị trƣờng.2 Khái quát Ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại Cho đến thời điểm hiện nay có rất nhiều khái niệm về Ngân hàng thƣơng mại.
Nhƣ ở Mỹ, Ngân hàng thƣơng mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Theo đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thƣơng mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thƣờng xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dƣới hình thức ký thác, hoặc dƣới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Ở Việt Nam, Trong Luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam có ghi nhƣ sau: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. 9 Từ những nhận định trên có thể thấy Ngân hàng thƣơng mại là một trong những định chế tài chính mà đặc trƣng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Ngoài ra, Ngân hàng thƣơng mại còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội. Nhƣ vậy “Chiến lƣợc kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại là định hƣớng kinh doanh nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề ra của Ngân hàng thƣơng mại”.2 Chức năng của ngân hàng thương mại 1.1 Chức năng trung gian tín dụng Ngân hàng là một tổ chức trung gian tín dụng với hoạt động chủ yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tƣ, đòi hỏi sự tiếp xúc với hai loại cá nhân và tổ chức trong kinh tế: Các cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt chi tiêu (tức là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tƣ vƣợt quá thu nhập và vì thế họ là những ngƣời cần bổ sung vốn). Các cá nhân và tổ chức thặng dƣ tạm thời trong chi tiêu (tức là thu nhập hiên tại của họ lớn hơn các khoản chi tiêu cho hàng hóa, dịch vụ và do vậy họ có tiền để tiết kiệm). Sự tồn tại của hai loại cá nhân và tổ chức trên hoàn toàn độc lập với Ngân hàng, và điều tất yếu là tiền sẽ chuyển từ nhóm thứ hai sang nhóm thứ nhất nếu cả hai cùng có lợi.
Khi đó sẽ hình thành nên mối quan hệ tài chính, mà có thể là quan hệ trực tiếp dƣới hình thức tín dụng hoặc quan hệ cấp phát, hùn vốn và cũng có thể là quan hệ gián tiếp nếu trong quan hệ trực tiếp bị nhiều giới hạn do không phù hợp về quy mô, thời gian, không gian. Với quan hệ gián tiếp đòi hỏi có sự tham gia của các trung gian tài chính mà với sự chuyên môn hóa họ có thể giảm chi phí giao dịch xuống, làm tăng thu nhập cho ngƣời tiết kiệm từ đó mà khuyến khích đƣợc tiết kiệm, đồng thời giảm phí tổn tín dụng cho ngƣời đầu tƣ và cũng khuyến khích đầu tƣ. Trung gian 10 tín dụng đã tập hợp những ngƣời tiết kiệm và đầu tƣ, vì vậy giải quyết đƣợc mâu thuẫn của quan hệ tài chính trực tiếp. Với chức năng trung gian tín dụng, Ngân hàng thƣơng mại làm "cầu nối" giữa ngƣời thừa vốn và ngƣời thiếu vốn và nó đã không chỉ đem lại lợi ích cho những ngƣời dƣ thừa vốn và những ngƣời thiếu vốn mà còn đem lại lợi ích kinh tế cho bản thân nó và nền kinh tế.
Đối với ngân hàng, họ sẽ tìm đƣợc lợi nhuận cho bản thân mình từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới. Đây chính là chức năng quan trọng nhất của Ngân hàng thƣơng mại, nó quyết định sự duy trì và phát triển của Ngân hàng đồng thời là cơ sở để thực hiện các chức năng khác.2 Chức năng trung gian thanh toán Chức năng trung gian thanh toán có nghĩa là ngân hàng đứng ra thanh toán hộ cho khách hàng bằng cách chuyển tiền từ tài khoản này sang tài khoản khác theo yêu cầu của họ. Thông qua chức năng này Ngân hàng đóng vai trò là ngƣời "thủ quỹ" cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là ngƣời giữ tiền của khách hàng, chi tiền hộ cho khách hàng. Nền kinh tế thị trƣờng càng phát triển thì chức năng này của ngân hàng ngày càng đƣợc mở rộng.
Thông qua chức năng trung gian thanh toán, hệ thống Ngân hàng thƣơng mại góp phần phát triển nền kinh tế. Khi khách hàng thực hiện thanh toán qua ngân hàng sẽ làm giảm rủi ro, giảm chi phí thanh toán cho khách hàng đồng thời tốc độ luân chuyển vốn kinh doanh của khách hàng nhanh hơn, làm cho hiệu quả sử dụng vốn của khách hàng tăng. Đối với Ngân hàng thƣơng mại chức năng này góp phần tăng lợi nhuận của ngân hàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán. Hơn nữa, nó lại tăng nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiện trên số dƣ có tài khoản tiền gửi của khách hàng.
Chức năng này cũng chính là cơ sở để hình thành chức năng tạo tiền của Ngân hàng thƣơng mại. 11 Tiền - Vàng có một chức năng quan trọng là làm phƣơng tiện thanh toán trong trao đổi mua bán hàng hóa, dịch vụ, song khi nền sản xuất phát triển cao hơn, lƣợng phân phối qua lại ngày càng nhiều thì trong thanh toán bằng tiền mặt, vàng gặp nhiều khó khăn và Ngân hàng đã tạo phƣơng tiện thanh toán khi phát hành giấy nhận nợ cho khách hàng, và với những ƣu điểm nhất định nó đã trở thành phƣơng tiện thanh toán rộng rãi đƣợc nhiều ngƣời chấp nhận. Ngoài ra giấy nhận nợ đó còn đƣợc thay thế tiền kim loại làm phƣơng tiện lƣu thông, phƣơng tiện cất trữ, nó trở thành tiền giấy.