Luận án tiến sĩ huy động nguồn tài chính tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập ở việt nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu huy động nguồn tài chính tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập ở việt nam, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh vực

Trường đại học

Học viện Tài chính

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ kinh tế

2018

197
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài Luận án

0.2. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến Luận án

0.3. Mục tiêu nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Kết cấu của luận án

1. CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG NGUỒN TÀI CHÍNH TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM

1.1. Tổng quan về giáo dục nghề nghiệp công lập ở Việt Nam

1.2. Những kết quả đạt được trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp công lập

1.3. Hạn chế và nguyên nhân trong lĩnh vực Giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam

1.4. Chính sách tài chính đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập

1.5. Thực trạng huy động nguồn tài chính tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập

1.5.1. Thực trạng huy động nguồn tài chính từ ngân sách Nhà nước tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập

1.5.2. Thực trạng huy động từ nguồn tài chính ngoài ngân sách Nhà nước

1.5.3. Kết quả mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mong muốn của sinh viên được đào tạo tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp

1.6. Đánh giá chung thực trạng huy động nguồn tài chính tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập

1.6.1. Những kết quả đạt được

1.6.2. Những hạn chế

1.6.3. Một số nguyên nhân

1.7. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG NGUỒN TÀI CHÍNH TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP CÔNG LẬP Ở VIỆT NAM

2.1. Mục tiêu phát triển giáo dục nghề nghiệp Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến 2030

2.2. Những quan điểm về huy động nguồn tài chính tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập ở Việt Nam

2.3. Giải pháp huy động nguồn tài chính tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập

2.3.1. Đổi mới chi Ngân sách nhà nước cho giáo dục nghề nghiệp nhằm đảm bảo sử dụng có hiệu quả nguồn tài chính từ NSNN

2.3.2. Giải pháp huy động nguồn tài chính ngoài ngân sách Nhà nước

2.3.3. Điều kiện thực hiện

2.3.4. Rà soát nghiên cứu đổi mới cơ chế quản lý tài chính trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp

2.3.5. Hoàn thiện cơ chế tự chủ, phát triển xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp

2.4. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Lý luận về huy động tài chính tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập

Phần này trình bày các khái niệm cơ bản về giáo dục nghề nghiệphuy động tài chính. Giáo dục nghề nghiệp được định nghĩa là hệ thống đào tạo nhằm cung cấp kỹ năng và kiến thức chuyên môn cho người lao động, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Huy động tài chính là quá trình thu hút các nguồn lực tài chính từ nhiều kênh khác nhau để đảm bảo hoạt động và phát triển của các cơ sở giáo dục. Phần này cũng phân tích các kênh huy động tài chính chính, bao gồm ngân sách nhà nước, học phí, và các nguồn tài trợ từ doanh nghiệp. Các nhân tố ảnh hưởng đến huy động tài chính được chia thành hai nhóm: nhân tố khách quan (như chính sách nhà nước, điều kiện kinh tế) và nhân tố chủ quan (như năng lực quản lý, uy tín của cơ sở giáo dục).

1.1. Khái niệm và vai trò của giáo dục nghề nghiệp

Giáo dục nghề nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế. Nó không chỉ giúp người lao động có kỹ năng chuyên môn mà còn góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp và nâng cao năng suất lao động. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, giáo dục nghề nghiệp càng trở nên quan trọng, đặc biệt là trong các ngành công nghiệp kỹ thuật cao.

1.2. Các kênh huy động tài chính

Các kênh huy động tài chính chính bao gồm ngân sách nhà nước, học phí, và các nguồn tài trợ từ doanh nghiệp. Ngân sách nhà nước là nguồn tài chính chủ yếu, nhưng trong bối cảnh ngân sách hạn chế, việc tăng cường các nguồn tài chính ngoài ngân sách là cần thiết. Học phí là nguồn thu quan trọng, nhưng cần được điều chỉnh hợp lý để không gây khó khăn cho người học. Các nguồn tài trợ từ doanh nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng, đặc biệt là trong việc đào tạo theo nhu cầu thị trường.

II. Thực trạng huy động tài chính tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập ở Việt Nam

Phần này phân tích thực trạng huy động tài chính tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập ở Việt Nam. Ngân sách nhà nước vẫn là nguồn tài chính chủ yếu, nhưng tỷ trọng ngân sách dành cho giáo dục nghề nghiệp đang giảm dần. Các nguồn tài chính ngoài ngân sách, như học phítài trợ từ doanh nghiệp, đang được khai thác nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu. Phần này cũng chỉ ra những hạn chế trong việc huy động tài chính, như sự phụ thuộc quá lớn vào ngân sách nhà nước, thiếu cơ chế khuyến khích các nguồn tài trợ từ doanh nghiệp, và sự chưa đồng bộ trong chính sách tài chính.

2.1. Thực trạng huy động từ ngân sách nhà nước

Ngân sách nhà nước là nguồn tài chính chủ yếu cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập. Tuy nhiên, tỷ trọng ngân sách dành cho giáo dục nghề nghiệp đang giảm dần, gây áp lực lên các cơ sở giáo dục trong việc duy trì và nâng cao chất lượng đào tạo. Việc phân bổ ngân sách cũng chưa hợp lý, dẫn đến tình trạng thiếu hụt tài chính ở nhiều cơ sở.

2.2. Thực trạng huy động từ nguồn tài chính ngoài ngân sách

Các nguồn tài chính ngoài ngân sách, như học phítài trợ từ doanh nghiệp, đang được khai thác nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu. Học phí là nguồn thu quan trọng, nhưng việc tăng học phí cần được cân nhắc để không gây khó khăn cho người học. Tài trợ từ doanh nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng, nhưng cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào giáo dục nghề nghiệp còn thiếu.

III. Giải pháp huy động tài chính hiệu quả cho giáo dục nghề nghiệp công lập tại Việt Nam

Phần này đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động tài chính cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập. Các giải pháp bao gồm đổi mới cơ chế quản lý tài chính, tăng cường huy động nguồn tài chính ngoài ngân sách, và hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính. Việc đổi mới cơ chế quản lý tài chính cần tập trung vào việc phân bổ ngân sách hợp lý và minh bạch. Tăng cường huy động nguồn tài chính ngoài ngân sách thông qua việc khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào giáo dục nghề nghiệp và điều chỉnh học phí hợp lý. Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính sẽ giúp các cơ sở giáo dục chủ động hơn trong việc quản lý và sử dụng nguồn tài chính.

3.1. Đổi mới cơ chế quản lý tài chính

Việc đổi mới cơ chế quản lý tài chính cần tập trung vào việc phân bổ ngân sách hợp lý và minh bạch. Cần có cơ chế kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng ngân sách để đảm bảo hiệu quả và tránh lãng phí. Đồng thời, cần tăng cường tính tự chủ của các cơ sở giáo dục trong việc quản lý tài chính.

3.2. Tăng cường huy động nguồn tài chính ngoài ngân sách

Tăng cường huy động nguồn tài chính ngoài ngân sách thông qua việc khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào giáo dục nghề nghiệp và điều chỉnh học phí hợp lý. Cần có các chính sách ưu đãi để thu hút sự tham gia của doanh nghiệp, như giảm thuế hoặc hỗ trợ tài chính. Đồng thời, việc điều chỉnh học phí cần được thực hiện một cách hợp lý để không gây khó khăn cho người học.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ huy động nguồn tài chính tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN TÀI CHÍNH TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Giáo dục nghề nghiệp và hệ thống giáo dục nghề nghiệp 1. Khái niệm giáo dục nghề nghiệp Cho đến nay, vấn đề GDNN, được các nhà quản lý, các nhà khoa học hết sức quan tâm và đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Wiliam McGehee (1967) cho rằng GDNN là những quy trình mà các công ty sử dụng để tạo thuận lợi cho việc học tập có kết quả các hành vi đóng góp vào mục đích và các tiêu chí của công ty.

Quan niệm GDNN của Wiliam McGehee có phần hơi hẹp chỉ bó khung trong công ty. [61] Theo tổ chức lao động quốc tế ILO, GDNN là những hình thức đào tạo để tạo ra công ăn, việc làm thông qua những phương tiện, kỹ thuật, thương nghiệp hay quản lý; qua đó có được kiến thức hay kỹ năng thu được, hay phát triển thêm ở bên trong hay bên ngoài quá trình đào tạo bao gồm cả đào tạo lại. Quan niệm của ILO về GDNN là một quan niệm mở nó diễn ra không chỉ là trong quá trình dạy theo những trường lớp nhất định, không chỉ đối với người lao động chưa có nghề nghiệp mà cã những người lao động đã có nghề nghiệp song không còn thích hợp với thị trường lao động. [58] Luật Giáo dục nghề Trung Quốc định nghĩa: GDNN là một phần quan trọng của giáo dục được nhà nước đảm bảo và là một hướng quan trọng để khuyến khích phát triển kinh tế - xã hội và việc làm.

Nhà nước phát triển GDNN, thúc đẩy cải cách GDNN, nâng cao chất lượng GDNN, thiết lập và cải thiện hệ thống dạy nghề cùng với phát triển kinh tế thị trường và tiến bộ xã hội. Luật GDNN của Trung quốc nhấn mạnh đến trách nhiệm của Nhà nước đối với hoạt động GDNN. [57] Ở Việt Nam, GDNN là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc 13 làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp. Đây là một cách tiếp cận rõ ràng, cụ thể về GDNN.[45] Có thể hiểu, GDNN là quá trình tác động có mục đích có định hướng của người dạy và người học dựa trên những công cụ, những tri thức về nghề nghiệp để hình thành những tri thức, kỹ năng mềm và phẩm chất tâm lý xã hội cho người lao động theo yêu cầu của thị trường lao động nhằm tạo cho người lao động có thể tìm kiếm được việc làm, hoặc tự tạo ra việc làm bảo đảm đời sống cho mình và góp phần nâng cao năng suất lao động xã hội.

Qua nghiên cứu, tác giả Luận án cho rằng Giáo dục nghề nghiệp là một bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, được thực hiện theo hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên. Đặc điểm giáo dục nghề nghiệp 1. Giáo dục nghề nghiệp là loại hình dịch vụ công không thuần túy và cũng là yếu tố ngoại lai tích cực Để phân biệt dịch vụ công và dịch vụ tư người ta dựa trên hai đặc tính: (i) đặc tính cạnh tranh; (ii) đặc tính loại trừ. Nói chung dịch vụ tư là dịch vụ có tính cạnh tranh và tính loại trừ, ngược lại về cơ bản dịch vụ công là dịch vụ không có tính cạnh tranh và không có tính loại trừ.

Tuy nhiên, trong thực tế của nền kinh tế thị trường không phải tất cả các dịch vụ công đều không cạnh tranh hoặc không loại trừ, chẳng hạn như dịch vụ giáo dục là một loại dịch vụ công có thể là loại dịch vụ loại trừ, nghĩa là người trực tiếp thụ hưởng dịch vụ này phải có những điều kiện nhất định. Từ thực tế này người ta phân dịch vụ công thành hai loại: dịch vụ công thuần túy (không cạnh tranh, không loại trừ); dịch vụ công không thuần túy (có thể có cạnh tranh hoặc có thể loại trừ). Dịch vụ GDNN tuy không mang tính cạnh tranh giá dịch vụ GDNN không 14 theo quy luật cung cầu của thị trường, song nó có thể loại trừ đối với người hưởng thụ trực tiếp dịch vụ GDNN - họ phải thỏa mãn những điều kiện nhất định mới có thể được thụ hưởng trực tiếp dịch vụ GDNN. Dịch vụ giáo dục nghề nghiệp cũng giống như những dịch vụ trong lĩnh vực đào tạo khác, có “Tác động ngoại biên”.

Nghĩa là khi người lao động được hưởng trực tiếp dịch vụ GDNN thì dịch vụ này không những mang lại lợi ích thiết thực cho người lao động đó mà còn ảnh hưởng làm tăng lợi ích xã hội như năng suất lao động xã hội tăng lên do số người lao động qua đào tạo tăng lên, những tiêu cực của xã hội có thể giảm đi. Tuy nhiên, tác động ngọai biên này không phản ánh qua giao dịch trên thị trường GDNN. Nghiên cứu đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm giữa khu vực nhà nước, khu vực tư nhân trong việc GDNN cho người lao động và nâng cao trách nhiệm của xã hội đối với hoạt động GDNN. Đối với loại hình dịch vụ công không thuần túy, Nhà nước không cần bao cấp hoàn toàn, người học phải chia sẻ một phần chi phí cho việc cung cấp dịch vụ này dưới dạng học phí.

Đối với yếu tố ngoại lai tích cực, nhà nước tài trợ kinh phí dưới dạng trợ cấp cho nhà cung cấp dịch vụ để họ tăng khối lượng dịch vụ cung cấp cho nền kinh tế. Giáo dục nghề nghiệp luôn gắn với yêu cầu của thị trường lao động và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển của đất nước Yêu cầu của thị trường lao động kể cả phía cung và phía cầu sức lao động rất đa dạng, không cố định luôn biến động theo sự biến động tình hình kinh tế - xã hội. Do đó, GDNN cũng có những thay đổi theo bối cảnh kinh tế xã hội kể cả nội dung, phương thức, quy trình GDNN. Mặt khác, trong mô hình kinh tế hỗn hợp, có sự kết hợp hài hòa giữa bàn tay vô hình (các quy luật 15 vận động của thị trường) với bàn tay hữu hình của Nhà nước (sự quản lý điều chỉnh của Nhà nước).

Do đó, GDNN tuân theo chu kỳ kinh tế và những chiến lược phát triển KT - XH do Nhà nước đặt ra. Nghiên cứu đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng chương trình, nội dung, quy trình, phương thức GDNN của các cơ sở GDNN công lập cũng như ngoài công lập. Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu và có những yêu cầu đối với giáo dục nghề nghiệp Với xu hướng hội nhập nền kinh tế, việc di chuyển lao động không chỉ bó khung trong biên giới của một quốc gia mà còn vượt ra ngoài biên giới. Do đó, GDNN cũng phải tính đến yếu tố này.

Trong điều kiện hội nhập, mở cửa nền kinh tế vừa phải chú trọng đến những thông lệ quốc tế trong hoạt động GDNN, đáp ứng yêu cầu của người lao động khi di chuyển ra ngoài biên giới, vừa phải đối mặt với sự cạnh tranh không chỉ các cơ sở GDNN trong nước mà còn đối với cơ sở của nước ngoài khi họ triển khai các hoạt động GDNN tại đất nước nhận đầu tư. Đây là đặc điểm của GDNN trong bối cảnh hội nhập, mở cửa ngày càng sâu rộng. Nhận rõ đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng nhằm không ngừng đổi mới hoạt động GDNN của các cơ sở GDNN nội địa. Giáo dục nghề nghiệp có đối tượng là những người lao động trực tiếp trong các cơ sở sản xuất kinh doanh Do đó, nội dung, phương thức, quy trình đào tạo khác với các hình thức đào tạo khác.

Về cơ bản nội dung GDNN hướng vào yêu cầu thực hành là chính không mang nặng tính lý thuyết hàn lâm. Phương thức GDNN rất cụ thể theo hướng cầm tay chỉ việc là chính, gắn với yêu cầu cụ thể và đặc điểm của từng cơ sở sản xuất, kinh doanh. Đặc điểm này, giúp ta phân biệt GDNN với các cấp đào tạo khác, từ đó xây dựng quy hoạch hoạt động GDNN này một cách thích hợp. Vai trò giáo dục nghề nghiệp với phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia 1.

Giáo dục nghề nghiệp góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế mới cho rằng công nghệ thay đổi càng nhanh thì càng thúc đẩy kinh tế trong dài hạn, mặt khác công nghệ tăng trưởng nhanh hơn khi lực lượng lao động có trình độ cao hơn. Bởi vậy, tích lũy vốn con người, đặc biệt là kiến thức sẽ tạo điều kiện phát triển các công nghệ mới và cũng chính là nguồn duy trì tăng trưởng kinh tế. Thành công của một quốc gia được xem như kết quả của mối quan hệ giữa nội dung và cấu trúc của hệ thống giáo dục với chất lượng của nguồn nhân lực. Do đó, sự mất cân bằng của thị trường lao động và tỷ lệ tăng trưởng đi xuống được quy cho chất lượng hệ thống đào tạo nghề không đủ đáp ứng nhu cầu và sự phối hợp thiếu hiệu quả giữa một bên là nội dung giảng dạy và bằng cấp của hệ thống giáo dục quốc gia với một bên là những yêu cầu về chất lượng và yêu cầu công việc của hệ thống tuyển dụng.

Nhận thức dù ít hay nhiều về mối quan hệ giữa cấu trúc giáo dục và thành công của nền kinh tế thì các chính sách giáo dục của các nước công nghiệp phát triển thành công trước đó đã khẳng định vai trò của mình và coi đó như là một trong các giải pháp nhằm giúp giải quyết các vấn đề của đất nước. Hầu hết các cuộc tranh luận về sự cần thiết, tính hợp lý và hiện đại trong cải cách hệ thống giáo dục đều dựa trên cơ sở lý luận kinh tế giáo dục, trong đó đào tạo nghề được coi là một nhân tố có vị trí quan trọng, có khả năng quyết định những vấn đề về phát triển kinh tế, tiến bộ kỹ thuật và sức cạnh tranh của tất cả các thị trường trên thế giới. Để có được đội ngũ những người lao động giỏi thì phải đầu tư, mà đầu tư cho giáo dục nói chung và GDNN nói riêng phải được coi là đầu tư phát triển.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Chiến lược huy động tài chính hiệu quả cho giáo dục nghề nghiệp công lập tại Việt Nam" cung cấp cái nhìn toàn diện về các phương pháp tối ưu hóa nguồn lực tài chính trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp. Nó tập trung vào việc đề xuất các giải pháp sáng tạo để thu hút đầu tư, quản lý ngân sách hiệu quả, và đảm bảo tính bền vững cho các cơ sở đào tạo công lập. Độc giả sẽ nhận được những lợi ích thiết thực như hiểu rõ cách thức vận hành tài chính, nắm bắt cơ hội hợp tác, và áp dụng các chiến lược phù hợp để nâng cao chất lượng đào tạo nghề.

Để mở rộng kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ nâng cao chất lượng đào tạo nghề tại trường cao đẳng du lịch Hải Phòng, nghiên cứu về các yếu tố cải thiện chất lượng đào tạo. Ngoài ra, Khóa luận tốt nghiệp đào tạo nghề tại công ty cổ phần đầu tư xây dựng Hoàng Anh cung cấp góc nhìn thực tế về quá trình đào tạo nghề trong môi trường doanh nghiệp. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ phát triển kĩ năng thích ứng nghề qua thực hành thực tập nghề nghiệp sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về vai trò của thực tập trong việc hình thành kỹ năng nghề nghiệp. Hãy khám phá thêm để có cái nhìn đa chiều và toàn diện hơn!