Chương 1 LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN TÀI CHÍNH TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Giáo dục nghề nghiệp và hệ thống giáo dục nghề nghiệp 1. Khái niệm giáo dục nghề nghiệp Cho đến nay, vấn đề GDNN, được các nhà quản lý, các nhà khoa học hết sức quan tâm và đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Wiliam McGehee (1967) cho rằng GDNN là những quy trình mà các công ty sử dụng để tạo thuận lợi cho việc học tập có kết quả các hành vi đóng góp vào mục đích và các tiêu chí của công ty.
Quan niệm GDNN của Wiliam McGehee có phần hơi hẹp chỉ bó khung trong công ty. [61] Theo tổ chức lao động quốc tế ILO, GDNN là những hình thức đào tạo để tạo ra công ăn, việc làm thông qua những phương tiện, kỹ thuật, thương nghiệp hay quản lý; qua đó có được kiến thức hay kỹ năng thu được, hay phát triển thêm ở bên trong hay bên ngoài quá trình đào tạo bao gồm cả đào tạo lại. Quan niệm của ILO về GDNN là một quan niệm mở nó diễn ra không chỉ là trong quá trình dạy theo những trường lớp nhất định, không chỉ đối với người lao động chưa có nghề nghiệp mà cã những người lao động đã có nghề nghiệp song không còn thích hợp với thị trường lao động. [58] Luật Giáo dục nghề Trung Quốc định nghĩa: GDNN là một phần quan trọng của giáo dục được nhà nước đảm bảo và là một hướng quan trọng để khuyến khích phát triển kinh tế - xã hội và việc làm.
Nhà nước phát triển GDNN, thúc đẩy cải cách GDNN, nâng cao chất lượng GDNN, thiết lập và cải thiện hệ thống dạy nghề cùng với phát triển kinh tế thị trường và tiến bộ xã hội. Luật GDNN của Trung quốc nhấn mạnh đến trách nhiệm của Nhà nước đối với hoạt động GDNN. [57] Ở Việt Nam, GDNN là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc 13 làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp. Đây là một cách tiếp cận rõ ràng, cụ thể về GDNN.[45] Có thể hiểu, GDNN là quá trình tác động có mục đích có định hướng của người dạy và người học dựa trên những công cụ, những tri thức về nghề nghiệp để hình thành những tri thức, kỹ năng mềm và phẩm chất tâm lý xã hội cho người lao động theo yêu cầu của thị trường lao động nhằm tạo cho người lao động có thể tìm kiếm được việc làm, hoặc tự tạo ra việc làm bảo đảm đời sống cho mình và góp phần nâng cao năng suất lao động xã hội.
Qua nghiên cứu, tác giả Luận án cho rằng Giáo dục nghề nghiệp là một bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, được thực hiện theo hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên. Đặc điểm giáo dục nghề nghiệp 1. Giáo dục nghề nghiệp là loại hình dịch vụ công không thuần túy và cũng là yếu tố ngoại lai tích cực Để phân biệt dịch vụ công và dịch vụ tư người ta dựa trên hai đặc tính: (i) đặc tính cạnh tranh; (ii) đặc tính loại trừ. Nói chung dịch vụ tư là dịch vụ có tính cạnh tranh và tính loại trừ, ngược lại về cơ bản dịch vụ công là dịch vụ không có tính cạnh tranh và không có tính loại trừ.
Tuy nhiên, trong thực tế của nền kinh tế thị trường không phải tất cả các dịch vụ công đều không cạnh tranh hoặc không loại trừ, chẳng hạn như dịch vụ giáo dục là một loại dịch vụ công có thể là loại dịch vụ loại trừ, nghĩa là người trực tiếp thụ hưởng dịch vụ này phải có những điều kiện nhất định. Từ thực tế này người ta phân dịch vụ công thành hai loại: dịch vụ công thuần túy (không cạnh tranh, không loại trừ); dịch vụ công không thuần túy (có thể có cạnh tranh hoặc có thể loại trừ). Dịch vụ GDNN tuy không mang tính cạnh tranh giá dịch vụ GDNN không 14 theo quy luật cung cầu của thị trường, song nó có thể loại trừ đối với người hưởng thụ trực tiếp dịch vụ GDNN - họ phải thỏa mãn những điều kiện nhất định mới có thể được thụ hưởng trực tiếp dịch vụ GDNN. Dịch vụ giáo dục nghề nghiệp cũng giống như những dịch vụ trong lĩnh vực đào tạo khác, có “Tác động ngoại biên”.
Nghĩa là khi người lao động được hưởng trực tiếp dịch vụ GDNN thì dịch vụ này không những mang lại lợi ích thiết thực cho người lao động đó mà còn ảnh hưởng làm tăng lợi ích xã hội như năng suất lao động xã hội tăng lên do số người lao động qua đào tạo tăng lên, những tiêu cực của xã hội có thể giảm đi. Tuy nhiên, tác động ngọai biên này không phản ánh qua giao dịch trên thị trường GDNN. Nghiên cứu đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm giữa khu vực nhà nước, khu vực tư nhân trong việc GDNN cho người lao động và nâng cao trách nhiệm của xã hội đối với hoạt động GDNN. Đối với loại hình dịch vụ công không thuần túy, Nhà nước không cần bao cấp hoàn toàn, người học phải chia sẻ một phần chi phí cho việc cung cấp dịch vụ này dưới dạng học phí.
Đối với yếu tố ngoại lai tích cực, nhà nước tài trợ kinh phí dưới dạng trợ cấp cho nhà cung cấp dịch vụ để họ tăng khối lượng dịch vụ cung cấp cho nền kinh tế. Giáo dục nghề nghiệp luôn gắn với yêu cầu của thị trường lao động và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển của đất nước Yêu cầu của thị trường lao động kể cả phía cung và phía cầu sức lao động rất đa dạng, không cố định luôn biến động theo sự biến động tình hình kinh tế - xã hội. Do đó, GDNN cũng có những thay đổi theo bối cảnh kinh tế xã hội kể cả nội dung, phương thức, quy trình GDNN. Mặt khác, trong mô hình kinh tế hỗn hợp, có sự kết hợp hài hòa giữa bàn tay vô hình (các quy luật 15 vận động của thị trường) với bàn tay hữu hình của Nhà nước (sự quản lý điều chỉnh của Nhà nước).
Do đó, GDNN tuân theo chu kỳ kinh tế và những chiến lược phát triển KT - XH do Nhà nước đặt ra. Nghiên cứu đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc xây dựng chương trình, nội dung, quy trình, phương thức GDNN của các cơ sở GDNN công lập cũng như ngoài công lập. Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu và có những yêu cầu đối với giáo dục nghề nghiệp Với xu hướng hội nhập nền kinh tế, việc di chuyển lao động không chỉ bó khung trong biên giới của một quốc gia mà còn vượt ra ngoài biên giới. Do đó, GDNN cũng phải tính đến yếu tố này.
Trong điều kiện hội nhập, mở cửa nền kinh tế vừa phải chú trọng đến những thông lệ quốc tế trong hoạt động GDNN, đáp ứng yêu cầu của người lao động khi di chuyển ra ngoài biên giới, vừa phải đối mặt với sự cạnh tranh không chỉ các cơ sở GDNN trong nước mà còn đối với cơ sở của nước ngoài khi họ triển khai các hoạt động GDNN tại đất nước nhận đầu tư. Đây là đặc điểm của GDNN trong bối cảnh hội nhập, mở cửa ngày càng sâu rộng. Nhận rõ đặc điểm này có ý nghĩa quan trọng nhằm không ngừng đổi mới hoạt động GDNN của các cơ sở GDNN nội địa. Giáo dục nghề nghiệp có đối tượng là những người lao động trực tiếp trong các cơ sở sản xuất kinh doanh Do đó, nội dung, phương thức, quy trình đào tạo khác với các hình thức đào tạo khác.
Về cơ bản nội dung GDNN hướng vào yêu cầu thực hành là chính không mang nặng tính lý thuyết hàn lâm. Phương thức GDNN rất cụ thể theo hướng cầm tay chỉ việc là chính, gắn với yêu cầu cụ thể và đặc điểm của từng cơ sở sản xuất, kinh doanh. Đặc điểm này, giúp ta phân biệt GDNN với các cấp đào tạo khác, từ đó xây dựng quy hoạch hoạt động GDNN này một cách thích hợp. Vai trò giáo dục nghề nghiệp với phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia 1.
Giáo dục nghề nghiệp góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Các lý thuyết về tăng trưởng kinh tế mới cho rằng công nghệ thay đổi càng nhanh thì càng thúc đẩy kinh tế trong dài hạn, mặt khác công nghệ tăng trưởng nhanh hơn khi lực lượng lao động có trình độ cao hơn. Bởi vậy, tích lũy vốn con người, đặc biệt là kiến thức sẽ tạo điều kiện phát triển các công nghệ mới và cũng chính là nguồn duy trì tăng trưởng kinh tế. Thành công của một quốc gia được xem như kết quả của mối quan hệ giữa nội dung và cấu trúc của hệ thống giáo dục với chất lượng của nguồn nhân lực. Do đó, sự mất cân bằng của thị trường lao động và tỷ lệ tăng trưởng đi xuống được quy cho chất lượng hệ thống đào tạo nghề không đủ đáp ứng nhu cầu và sự phối hợp thiếu hiệu quả giữa một bên là nội dung giảng dạy và bằng cấp của hệ thống giáo dục quốc gia với một bên là những yêu cầu về chất lượng và yêu cầu công việc của hệ thống tuyển dụng.
Nhận thức dù ít hay nhiều về mối quan hệ giữa cấu trúc giáo dục và thành công của nền kinh tế thì các chính sách giáo dục của các nước công nghiệp phát triển thành công trước đó đã khẳng định vai trò của mình và coi đó như là một trong các giải pháp nhằm giúp giải quyết các vấn đề của đất nước. Hầu hết các cuộc tranh luận về sự cần thiết, tính hợp lý và hiện đại trong cải cách hệ thống giáo dục đều dựa trên cơ sở lý luận kinh tế giáo dục, trong đó đào tạo nghề được coi là một nhân tố có vị trí quan trọng, có khả năng quyết định những vấn đề về phát triển kinh tế, tiến bộ kỹ thuật và sức cạnh tranh của tất cả các thị trường trên thế giới. Để có được đội ngũ những người lao động giỏi thì phải đầu tư, mà đầu tư cho giáo dục nói chung và GDNN nói riêng phải được coi là đầu tư phát triển.