CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận về chiến lược e-Marketing. CHƯƠNG 2: Đánh giá thực trạng chiến lược e-Marketing tại Công ty TNHH Phạm Tường 2000. CHƯƠNG 3: Đề xuất giải pháp xây dựng chiến lược e-Marketing cho Công ty TNHH Phạm Tường 2000. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHIẾN LƯỢC E-MARKETING CHƯƠNG CƠ SỞ LÝ LUẬN TẢI TẠI ĐÂY https://baocaothuctap.net/co-so-ly-luan-ve-truyen-thong-marketing-online/ 1.
Cơ sở lý luận chung về Marketing và chiến lược Marketing 1. Khái niệm về Marketing Định nghĩa Marketing theo nghĩa rộng: Là quá trình xúc tiến với thị trường để thực hiện các cuộc trao đổi nhằm thoả mãn những nhu cầu và mong muốn của con người (Philip Kotler, Marketing Management, 11th Edition, 2007). Định nghĩa Marketing theo nghĩa hẹp: Marketing là chuỗi các hoạt động, sự thiết lập của các tổ chức và việc tạo ra các quy trình để truyền thông, cung cấp, trao đổi và phân phối các giá trị cho khách hàng, đối tác và xã hội theo phương thức tạo ra các giá trị, quyền lợi cho tổ chức và các đối tác có liên quan (AMA, 2013)1. Trên thực tế, rất khó để đưa ra một định nghĩa hoàn toàn chính xác về Marketing, nhưng có thể thấy mọi định nghĩa đều hướng tới các nội dung cơ bản đó là các ho ạt động của tổ chức, doanh nghiệp nhằm đáp ứng những mong muốn, nhu cầu của khách hàng mục tiêu, từ đó tạo dựng được chỗ đứng vững chắc trong tâm trí khách hàng.
Khái niệm chiến lược Marketing Theo Philip Kotler: "Chiến lược Marketing là hệ thống luận điểm logic, hợp lý làm căn cứ chỉ đạo một đơn v ị tổ chức tính toán cách giải quyết những nhiệm vụ Marketing của mình. Nó bao gồm các chiến lược cụ thể đối với các thị trường mục tiêu, đối với Marketing - Mix, và chi phí cho Marketing ". Quá trình xây dựng chiến lược Marketing thông thường sẽ trải qua các bước như sau: phân tích các cơ hội thị trường, lựa chọn thị trường mục tiêu, xác định mục tiêu Marketing, triển khai Marketing - Mix, tổ chức thực hiện và kiểm tra hiệu quả chiến lược Marketing (Philip Kotler, Principles of Marketing, 15th Edition). Cơ sở lý luận chung về e-Marketing 1.
Khái niệm về e-Marketing Theo Philip Kotler, e-Marketing là quá trình lập kế hoạch về sản phẩm, giá, phân phối và xúc tiến đối với sản phẩm, dịch vụ và ý tưởng để đáp ứng nhu cầu của tổ chức và cá nhân, dựa trên các phương tiện đi ện tử và Internet. 1Nguồn AMA, 2013 http://archive.org/AboutAMA/Pages/DefinitionofMarketing.aspx 1 Ngoài ra, còn có một đ ịnh nghĩa khác về e-Marketing như sau: E-Marketing bao gồm tất cả các hoạt động để thoả mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng thông qua Internet và các phương tiện đi ện tử. Mặc dù có khá nhiều quan niệm và định nghĩa về e-Marketing nhưng chúng ta có thể hiểu một cách đơn giản: E-Marketing là quá trình thực hiện Marketing thông qua các công cụ kỹ thuật số, bởi thế đôi khi còn được gọi là Digital Marketing. Trong đó, kênh kỹ thuật số phát triển và phổ biến nhất là Internet.
E-Marketing là sự kết hợp giữa Marketing truyền thống và công nghệ thông tin nên các quy tắc, nguyên lý cơ bản về Marketing và kinh doanh không có sự thay đổi. Đặc trưng cơ bản của e-Marketing E-Marketing kể từ khi xuất hiện đã được các Marketer ứng dụng một cách rộng rãi và nhanh chóng. Nguyên nhân chủ yếu là do e-Marketing có nhiều đặc trưng ưu việt hơn so với Marketing truyền thống nên hiệu quả đem lại trong hoạt động Marketing, quảng bá thương hiệu, sản phẩm, dịch vụ cũng lớn hơn. E-Marketing có một số đặc trưng cơ bản như sau: - Không giới hạn về không gian Trong môi trường kỹ thuật số thì mọi trở ngại về khoảng cách địa lý đã được xoá bỏ hoàn toàn.
Điều này tạo đi ều kiện cho doanh nghiệp mở rộng hoạt động kinh doanh, khai thác triệt để thị trường trên toàn thế giới. Nhờ hoạt động quảng bá, tiếp thị trực tuyến mà doanh nghiệp hoàn toàn có thể quảng bá thương hiệu, sản phẩm, dịch vụ của mình đến với tập khách hàng mục tiêu trên khắp thế giới với một mức chi phí thấp và trong khoảng thời gian tối ưu. Khách hàng của doanh nghiệp có thể có xuất xứ từ bất cứ đâu: Mỹ, Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản, Anh,. Bên cạnh đó, đ ặc trưng này cũng tiềm ẩn thách thức rủi ro đối với doanh nghiệp.
Khi mà rào cản địa lý được xoá bỏ cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp chính thức tham gia vào môi trường kinh doanh toàn cầu. Khi đó, môi trường cạnh tranh sẽ trở nên gay gắt và khốc liệt hơn vì có những đối thủ mạnh đến từ khắp nơi gia nhập thị trường. Chính điều này đòi hỏi doanh nghiệp cần phải xây dựng một chiến lược kinh doanh, Marketing rõ ràng, cụ thể và linh hoạt. - Không giới hạn về thời gian E-Marketing có khả năng hoạt đ ộng liên tục tại mọi thời đi ểm, khai thác triệt đ ể thời gian 24 giờ trong một ngày, 7 ngày trong một tuần, 365 ngày trong một năm.
Với e-Marketing hoàn toàn không tồn tại khái niệm "thời gian chết". Doanh nghiệp có thể cung cấp dịch vụ hỗ trợ khách hàng, gửi e-mail, thực hiện các chương trình quảng cáo trực tuyến, rà soát kiểm tra hoạt động e-Marketing vào bất kỳ khoảng thời gian nào. 2 Thang Long University Library Nhưng cũng chính vì khái niệm về thời gian hoàn toàn đư ợc xoá bỏ nên doanh nghiệp sẽ trở thành mục tiêu đ ể khách hàng, đ ối thủ cạnh tranh cũng như mọi đ ối tượng khác có thể quan tâm theo dõi mọi lúc. Điều này buộc doanh nghiệp luôn phải cập nhật tin tức, hoạt đ ộng, sản phẩm, dịch vụ của mình đ ể có thể truyền tải những thông tin mới nhất tới khách hàng, từ đó gia tăng giá trị cốt lõi và chiếm đư ợc cảm tình, lòng tin trong mắt khách hàng mục tiêu.
- Tốc độ cao Nhờ có e-Marketing mà mọi thông tin về sản phẩm dịch vụ có thể được tung ra thị trường nhanh chóng hơn. Qua đó, khách hàng cũng có khả năng tiếp cận những thông tin này nhanh hơn. Mặt khác, thông tin phản hồi, tương tác ngược lại từ phía khách hàng đối với doanh nghiệp cũng diễn ra trong khoảng thời gian ngắn hơn. Ngoài ra, những giao dịch với khách hàng trong một số trường hợp cũng đư ợc thực thi nhanh hơn, đặc biệt là với những sản phẩm số hoá.
Tuy vậy, chính tốc độ lan truyền nhanh chóng cũng có tính hai mặt, đôi khi vẫn tồn tại những luồng thông tin không có lợi cho doanh nghiệp đ ược lan truyền một cách chóng mặt trên môi trường Internet. Khi đó, nếu doanh nghiệp không có cách thức xử lý một các chuyên nghiệp và kịp thời thì rất có nguy cơ rơi vào tình trạng khủng hoảng truyền thông. Ngoài ra doanh nghiệp cũng dễ vấp phải những chiêu thức cạnh tranh không lành mạnh của các đ ối thủ (bị tung tin đ ồn thất thiệt, nói xấu, bôi nhọ hình ảnh,. Trong thời đ ại thông tin đa chi ều và có tốc đ ộ lan truyền nhanh chóng như hiện nay thì doanh nghiệp luôn cần đề phòng, cảnh giác và hết sức tỉnh táo, khéo léo để đối phó với những luồng thông tin xấu.
- Đa dạng hoá sản phẩm Ngày nay, việc mua sắm đã tr ở nên dễ dàng hơn trước rất nhiều, khi mà khách hàng chỉ cần sở hữu một thiết bị có kết nối Internet là có thể thoả thích chọn lựa các sản phẩm, thực hiện mua sắm giống như tại các cửa hàng thật. Sản phẩm và dịch vụ được cung cấp trên các "cửa hàng ảo" (Virual Stores) này ngày một phong phú và đa dạng, thu hút được sự quan tâm lớn từ phía người tiêu dùng. Bên cạnh đó, có một số sản phẩm chỉ tồn tại và được cung ứng duy nhất trên môi trường trực tuyến, ví dụ như các sản phẩm trong game online,. Từ đó, e-Marketing tạo ra môi trường kinh doanh công bằng, phù hợp với cả những doanh nghiệp nhỏ cho tới những tập đoàn lớn.
Tuy vậy nó cũng đặt ra một thách thức lớn cho các doanh nghiệp khi mà họ sẽ phải đưa các sản phẩm, dịch vụ của mình lên môi trường trực tuyến một cách có chọn lọc, phù hợp với đối tượng khách hàng mục tiêu nhằm đạt được hiệu quả tối ưu nhất, tránh gây nhàm chán, khó chịu đối với người dùng Internet. 3 - Giảm thiểu những khác biệt về văn hoá, luật pháp, xã hội, kinh tế. Trên thực tế, Internet là môi trường có tính toàn cầu khi mà mọi đối tượng ở những vùng đất khác nhau, thuộc những chủng tộc khác nhau, có tôn giáo khác nhau,. đều có khả năng truy cập mạng lưới này nhằm tương tác với doanh nghiệp.
Chính vì thế, e- Marketing hay nói chính xác hơn là hình thức Marketing thông qua mạng Internet đã kéo mọi người không chỉ vượt qua khoảng cách địa lý mà còn cả khoảng cách về văn hoá, xã hội,. đ ể đến gần với nhau hơn cùng tham gia vào quá trình Marketing của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, khi ti ến hành thực hiện chương trình e-Marketing các doanh nghiệp đều cần tuân thủ những quy định cơ bản như: Luật Thương mại điện tử, chữ ký điện tử, giao dịch điện tử,. Dẫn đến việc mỗi doanh nghiệp khi xây dựng cách kế hoạch, chiến lược e-Marketing đều phải tìm hiểu kỹ lưỡng và chuẩn hoá những hoạt đ ộng e- Marketing của mình.
- Phương diện kỹ thuật Nhờ vào việc sử dụng những công cụ kỹ thuật số hiện đại, e-Marketing có thể mang tới cho khách hàng những trải nghiệm chân thực trong quá trình tìm kiếm thông tin, so sánh các lựa chọn trước khi ra quyết đ ịnh mua một cách thuận tiện và nhanh chóng nhất. Điều này góp phần giúp doanh nghiệp quảng bá sản phẩm của mình tới gần hơn với đối tượng khách hàng mục tiêu mà không cần tốn quá nhiều chi phí và nguồn lực. Ví dụ, khi có nhu cầu mua một chiếc áo sơ mi, khách hàng hoàn toàn có thể tìm hiểu thông tin về chất liệu, kiểu dáng, màu sắc, kích cỡ,. của sản phẩm qua những thông tin, hình ảnh và video mà doanh nghiệp cung cấp trên website mà không cần phải đến tận cửa hàng.
E-Marketing cũng đòi hỏi khách hàng phải sử dụng các kỹ thuật mới, hơn nữa không phải tất cả mọi đối tượng khách hàng đều có khả năng sử dụng chúng một cách thành thạo (đặc biệt là những người ở vùng nông thôn hay không có trình độ học vấn cao, ít có cơ hội tiếp xúc với công nghệ thông tin). Ngoài ra, cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin cũng có khả năng trở thành một cản trở tương đối lớn.