Mở đầu. Chương 2: Cơ sở lý luận về xây dựng chiến lược đầu tư bất động sản. Chương 3: Thực trạng xây dựng chiến lược đầu tư bất động sản tại Công ty Cổ phần Địa ốc MB. Chương 4: Các định hướng cơ bản và giải pháp xây dựng chiến lược đầu tư bất động sản giai đoạn từ 2012 đến 2020 tại Công ty Cổ phần Địa ốc MB.
17 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC ĐẦU TƯ BẤT ĐỘNG SẢN 2. Chiến lược đầu tư 2.Khái niệm chiến lược Chiến lược là một từ có nguồn gốc từ lĩnh vực quân sự, được hiểu là phương châm, biện pháp có tính chất toàn cục để giành được chiến thắng trong một cuộc chiến tranh. Ngày nay “Chiến lược” là một khái niệm được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng có thể hiểu chiến lược là chương trình hành động, kế hoạch hành động được thiết kế để đạt được một mục tiêu cụ thể, là tổ hợp các mục tiêu dài hạn và các biện pháp, các cách thức, con đường đạt đến các mục tiêu đó. Nói đến chiến lược của một tổ chức nào đó người ta thường nghĩ ngay đến việc tổ chức đó phải xác định mục tiêu muốn đạt tới là gì, cách thức thực hiện ra sao và phải đảm bảo cho nó những nguồn lực nào.
Trong lĩnh vực kinh tế, thường nói tới khái niệm “chiến lược kinh doanh”, với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, có thể tập hợp các khái niệm ấy theo cách tiếp cận phổ biến sau: Cách tiếp cận thứ nhất: Chiến lược kinh doanh là một lộ trình nhằm liên kết khả năng bên trong của tổ chức với các cơ hội và thách thức của môi trường bên ngoài. Cách tiếp cận về mục tiêu và biện pháp: Chiến lược kinh doanh là một bộ phận những quyết định và những hành động nhằm xây dựng và thực hiện mục tiêu của công ty. Cách tiếp cận hành động: Chiến lược kinh doanh là việc đề ra những mục tiêu của tổ chức, những quyết định và việc kiểm soát việc thực hiện quyết định, nhằm đạt mục tiêu đề ra.
Có thể điểm qua một số quan điểm đang được chú ý về khái niệm này: 18 - Afred Chandler (1918 – 2007; giáo sư lịch sử kinh doanh tại Trường Kinh doanh Harvard và Đại học Johns Hopkins) định nghĩa: Chiến lược là tiến trình xác định các mục tiêu cơ bản dài hạn của một tổ chức, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến trình hành động và phõn bổ các tài nguyên thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó ("Strategy is the determination of the basic long-term goals of an enterprise, and the adoption of courses of actions and the allocation of resources necessary to carry out these goals") [5. Quinn: Chiến lược là một dạng thức hoặc một kế hoạch phối hợp các mục tiêu chính, các chính sách và các trình tự hành động thành một tổng thể kết dính lại với nhau. Glueck: Chiến lược là một kế hoạch mang tính thống nhất, tính toàn diện và tính phối hợp, đuợc thiết kế để đảm bảo rằng các mục tiêu cơ bản của công ty sẽ được thực hiện ("Strategy is a unified, comprehensive, and integrative plan designed to assure that the basic objectives of the enterprise are achieved"). 180] - Theo Tập đoàn Tư vấn Boston (Boston Consulting Group - BCG, công ty tư vấn toàn cầu và cố vấn hàng đầu thế giới về chiến lược kinh doanh): Chiến lược kinh doanh là những xác định sự phân bổ nguồn lực sẵn có với mục đích làm thay đổi thế cân bằng cạnh tranh và chuyển lợi thế về phía mình.
25] - Theo Michael Porter (sinh năm 1947 - giáo sư chiến lược hàng đầu tại Trường Kinh doanh Harvard): Chiến lược kinh doanh để đương đầu với cạnh tranh là sự kết hợp giữa những mục tiêu cần đạt tới và những phương tiện mà doanh nghiệp cần tìm để đạt tới mục tiêu. 11] Từ những định nghĩa trên có thể khái quát: Chiến lược kinh doanh là phương hướng và quy mô của một tổ chức trong dài hạn: chiến lược sẽ mang lại lợi thế cho tổ chức thông qua việc sắp xếp tối ưu các nguồn lực trong một môi trường cạnh tranh nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường và kỳ vọng của các nhà góp vốn. Trong lĩnh vực đầu tư bất động sản, chiến lược là những phương tiện đạt tới những mục tiêu dài hạn, và có thể gồm có sự phát triển về địa lý, đa dạng hóa hoạt động, sở 19 hữu hóa, phát triển sản phẩm, thõm nhập thị trường, cắt giảm chi tiêu, thanh lý và liên doanh (theo Fred R. David trong tác phẩm “Khái luận về quản trị chiến lược”).
Vai trò, phân loại chiến lược 2.1 Vai trò của chiến lược Chiến lược kinh doanh là một bảng phác thảo tương lai bao gồm các mục tiêu cơ bản mà doanh nghiệp phải đạt được và những phương tiện cần thiết để đạt được mục tiêu đú. Vỡ những lý do đó, mà chiến lược có vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của danh nghiệp: Vai trò hoạch định: Chiến lược đầu tư bất động sản giúp doanh nghiệp thấy rừ mục đớch và hướng đi của mình. Nó chỉ ra cho nhà quản trị biết là phải xem xét và xác định xem tổ chức đi theo hướng nào và lúc nào sẽ đạt được kết quả mong muốn. Vai trò dự báo: Trong một môi trường luôn luôn biến động với các cơ hội cũng như nguy cơ luôn luôn xuất hiện, quá trình hoạch định chiến lược giúp cho nhà quản trị phõn tích môi trường và đưa ra những dự báo nhằm tìm ra các giải pháp hợp lý, nhờ đó nhà quản trị có khả năng nắm bắt tốt hơn các cơ hội, tận dụng được các cơ hội và giảm bớt các nguy cơ liên quan đến môi trường.
Vai trò điều khiển: Chiến lược đầu tư bất động sản giúp nhà quản trị sử dụng và phõn bổ các nguồn lực hiện có một cách tối ưu cũng như phối hợp một cách hiệu quả các chức năng trong tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung đề ra. Chiến lược kinh doanh giúp doanh nghiệp tận dụng được những điểm mạnh sẵn có, cơ hội trong tương lai để đương đầu với những thách thức và khắc phục những điểm yếu của mình, giữ vững và ngày càng nâng cao vị thế của doanh nghiệp trong nền kinh tế. Trong các hoạt động kinh doanh, việc lập “ Chiến lược” là việc làm thiết yếu, bởi nó mang lại cho doanh nghiệp sự chủ động, hiệu quả trong kinh doanh và hạn chế được những rủi ro có thể gặp phải trong suốt quá trình kinh doanh. Đặc biệt, trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản - một lĩnh vực kinh doanh 20 mang đặc tính phức tạp, đòi hỏi những nhà quản lý phải có tầm nhìn xa phù hợp với đặc tính vốn lớn và đầu tư lâu dài của lĩnh vực bất động sản.2 Phân loại chiến lược Dựa trên một số tiêu chí như cấp độ quản lý hay chức năng, chiến lược được phân loại như sau: a) Phõn loại theo cấp độ quản lý Trong bất kỳ tổ chức nào, các chiến lược đều tồn tại ở vài cấp độ khác nhau, trải dài từ toàn bộ doanh nghiờp (hoặc một nhóm doanh nghiệp) cho tới từng các nhân viên làm việc trong đó.
Dựa theo cấp độ quản lý chiến lược, chiến lược kinh doanh được chia thành ba nhóm sau đõy: - Chiến lược cấp công ty xác định và vạch rừ mục đích, các mục tiêu của công ty, xác định các hoạt động đầu tư bất động sản mà công ty theo đuổi, tạo ra các chính sách và các kế hoạch cơ bản để đạt được mục tiờu của công ty, phõn phối nguồn lực giữa các hoạt động đầu tư bất động sản. Chiến lược cấp công ty được áp dụng cho toàn bộ doanh nghiệp. - Chiến lược cấp đầu tư bất động sản - chiến lược kinh doanh được hoạch định nhằm xác định việc lựa chọn sản phẩm hoặc dạng thị trường cụ thể cho hoạt động đầu tư bất động sản riêng trong nội bộ công ty. Trong loại hình chiến lược này, người ta phải xác định cách thức mỗi đơn vị đầu tư bất động sản phải hoàn thành để đóng góp vào việc hoàn thành mục tiêu cấp công ty.
- Chiến lược cấp chức năng tập trung vào việc hỗ trợ chiến lược cấp công ty và tập trung vào những lĩnh vực tác nghiệp, những lĩnh vực đầu tư bất động sản. b) Phân loại chiến lược theo chức năng Căn cứ vào chức năng, chiến lược có thể được chia thành những nhóm sau: Nhóm chiến lược kết hợp, trong đó có chiến lược kết hợp về phía trước, kết hợp về phía sau và kết hợp theo chiều ngang: - Chiến lược kết hợp về phía trước: chiến lược doanh nghiệp thực hiện để tăng quyền kiểm soát hoặc quyền sở hữu đối với các nhà phõn phối hoặc bán lẻ. 21 - Chiến lược kết hợp về phía sau: chiến lược doanh nghiệp thực hiện để tăng quyền sở hữu hoặc kiểm soát đối với các nhà cung cấp. Điều này sẽ cho phép doanh nghiệp ổn định trong việc cung cấp, kiểm soát được chi phí đầu vào.
- Chiến lược kết hợp theo chiều ngang: chiến lược doanh nghiệp thực hiện với mong muốn kiểm soát các đối thủ cạnh tranh. Chiến lược này cho phép tập trung tài nguyên, mở rộng phạm vi hoạt động và làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Nhóm chiến lược chuyên sõu, trong đó có chiến lược thâm nhập thị trường, chiến lược phát triển thị trường và chiến lược phát triển sản phẩm - Chiến lược thõm nhập thị trường: chiến lược làm tăng thị phần cho các sản phẩm hoặc dịch vụ hiện có trong thị trường hiện tại của doanh nghiệp. - Chiến lược phát triển thị trường: chiến lược đưa vào những khu vực địa lý mới các sản phẩm hoặc dịch vụ hiện có của doanh nghiệp.
- Chiến lược phát triển sản phẩm: chiến lược đưa vào thị trường hiện tại các sản phẩm hoặc dịch vụ tương tự sản phẩm hiện có của doanh nghiệp những đã được cải tiến sửa đổi. Nhóm chiến lược mở rộng hoạt động bao gồm chiến lược đa dạng hóa hoạt động đồng tõm, đa dạng hóa hoạt động theo chiều ngang và đa dạng hóa hoạt động hỗn hợp. - Chiến lược đa dạng hóa hoạt động đồng tõm: chiến lược tăng doanh số và lợi nhuận bằng cách đưa vào thị trường hiện hữu những sản phẩm hoặc dịch vụ mới có liên quan đến các sản phẩm hiện thời. Sản phẩm mới trong chiến lược đa dạng hoá đồng tâm là những sản phẩm mới hay đã có mặt trên thị trường nhưng công ty chưa tham gia sản xuất kinh doanh.
Nếu thực hiện chiến lược, những sản phẩm này có thể bán trên cùng kênh phân phối với sản phẩm hiện tại của doanh nghiệp.