Chương 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN CƠ BAN VE CHIA TÀI SAN CHUNG CUA VỢ CHONG KHI LY HON 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của tài san kinh doanh Tài sản luôn là một khái niệm được nhắc đến rất nhiều trong đời sống thực tại. Nó được xem là công cụ hay phương tiện mà có khả năng kinh tế đáp ứng cho nhu cầu sống của con người- một số phục vụ nhu cầu thiết yếu không thê thiếu trong đời sống của con người. Nhiều người cô gắng đưa ra một định nghĩa về tài sản nhưng luôn thiếu bao quát và thiếu đầy đủ bởi vì tài sản rất đa dạng, rất phong phú về chủng loại và rất phức tạp.
BLDS Pháp 1804 không đưa ra định nghĩa nào về tài sản nhưng có quy định để xác định tại Điều 516 như sau: “tài sản là tất cả các tải sản là động sản hoặc bất động sản”. Theo kiểu liệt kê các dạng tài sản lớn và chủ yếu đó, BLDS 1995 của Việt Nam quy định: “Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ giá trị được bằng tiền và các quyên tài sản” (Điều 172). Sau đó Điều 188 của BLDS 1995 lại định nghĩa: “Quyên tai sản là quyên trị giá được băng tiền và có thé chuyền giao trong giao lưu dân sự, kê cả quyền sở hữu trí tuệ quy định tại Phan thứ sáu của Bộ luật này.” Như vậy là trong các dạng tai sản, có dạng định nghĩa được và có dang không định nghĩa được mà chỉ liệt kê được. Vì vậy rất khó dé tìm ra những đặc trưng chung của tài sản.
BLDS 2005 sau đó lại có chỉnh sửa một vài điểm của các quy định về tài sản. Điều 163 của BLDS 2005 quy định không khác nhiều: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.” và “Quyền tài sản là quyền trị giá được bang tiền và có thé chuyền giao trong giao dich dân sự, ké cả quyền sở hữu trí tuệ. Thực ra thì các quy định này chỉ chủ yếu khác nhau tý ti về thêm bớt từ trong đó. Tuy nhiên tới BLDS 2015, có thay đôi lớn hơn về sử dụng từ và quan niệm: “1.
Tài sản là vật, tiên, giây tờ có giá và quyên tai sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thé là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.” (Điều 105) Quy định này mô tả nhiều dạng tài sản hơn với các quy định giải thích thêm về bất động sản, động sản; tài sản hình thành trong tương lai; và quyền tài sản. Đặc biệt quyền tài sản được giải thích rắc rối hơn như sau: “Quyên tài sản là quyền trị giá được băng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.
Định nghĩa về quyền tài sản này không nêu đặc trưng của nó nữa mà lại đi liệt kê. Theo phân loại mà pháp luật của các nước thường dùng thì tài sản được chia thành tài sản hữu hình và tài sản vô hình, ví dụ BLDS Nga 1994 có định nghĩa tại Điều 128 như sau: “Thuộc về đối tượng của các quyền dân sự phải kê đến vật, trong đó có tiền và chứng khoán, và cả các loại tài sản khác như quyền tài sản; công việc và dịch vụ; thông tin; kết quả của hoạt động trí tuệ, bao gồm quyền loại trừ đối với chúng (quyền sở hữu trí tuệ); các giá trị phi vật chất”. Có lẽ nhà làm luật Việt Nam học theo điều luật này của Nga dé xay dung thanh Điều 172, BLDS 1995 và Điều 163, BLDS 2005 lam tiền thân của Điều 105 va Điều 181 của BLDS 2015 như đã phân tích ở trên. Tuy nhiên các Điều luật trên của các BLDS của Việt Nam không phân loại tài sản thành hai loại cơ bản là tài sản hữu hình và tài sản vô hình.
Vì thế có nhận xét cho rằng đó là sự khác biệt vì không khẳng định tiền và giấy tờ có giá thuộc về tài sản hữu hình, tức là tài sản hữu hình liên quan tới vật, còn tài sản vô hình liên quan tới quyền". Không dựa trên định nghĩa băng sự liệt kê, BLDS Louisiana (Điều 448) định nghĩa: “Tài sản được phân chia thành tài sản chung, tài sản công và tài sản tư; tài sản hữu hình và tài sản vô hình; và động sản và bất động sản.” Định nghĩa này hướng hoàn toàn tới hai cách phân loại tài sản khác nhau. Nhưng để định nghĩa tài sản, BLDS Quebec định nghĩa ngắn gọn và được sử dụng thường xuyên | Ngô Huy Cuong, “Những bat cap về khái niệm tai sản, phân loại tài sản của Bộ luật Dân sự 2005 và định hướng cải cách” (tr. 21 — 29), Tap chí Nghiên cứu lập pháp, Số 22(159)/11/ 2009, tr.
5 trong các BLDS như sau: “Tài sản, dù hữu hình hay vô hình, được phân chia thành bất động sản và động sản. Như vậy tài sản có bốn loại lớn: Bất động sản hữu hình và bất động sản vô hình; động sản hữu hình và động sản vô hình. Bất động sản và động sản hữu hình là tất cả các vật mà theo BLDS 2015 xác định như sau: “1. Bất động sản bao gồm: a) Đất đai; b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; c) Tài sản khác gan liền với dat đai, nhà, công trình xây dựng: đ) Tài sản khác theo quy định của pháp luật.
Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.” (Điều 107) Đây là một định nghĩa không rõ về BĐS và DS vì không chỉ ra được tính chat quan trong dé phân biệt giữa bat động sản hữu hình và động san hữu hình. Trước đây BLDS 1995 có chỉ rõ tính chất này tại Điều 181. Bất động sản hữu hình là các vật không di, dời được. Động sản hữu hình là những vật di, dời được.
Còn bat động san vô hình là các quyền được thi hành trên bất động sản, và động sản vô hình là các quyền được thi hành trên động sản. Riêng quyền sở hữu trí tuệ là quyền được thi hành trên các thành quả của hoạt động trí tuệ của con người như phát minh, sáng chế, giải pháp hữu ích, nhãn hiệu. và quyền tác giả. Vì vậy xem các định nghĩa liệt kê về tài sản trong các BLDS 1995, 2005 và 2015 có những thiếu sót.
Những thiếu sót này liên quan tới thiếu sót về mặt nhận thức về tài sản, không ảnh hưởng gì tới tài sản trên thực tế vì theo Nguyễn Văn Cừ và Trần Thị Huệ thì tài sản có ý nghĩa khách quan như sau: “Tài sản trước hết là điều kiện vật chất để duy trì sự sống của con người và là điều kiện vật chất dé sản xuất, kinh doanh, làm dich vụ. Tài sản còn là các vật chat khác do con người tao ra, chiêm hữu được và sử dụng được nhăm dé duy tri, bảo vệ cuộc sống và phát triển (nhà ở, tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng và các vật phẩm khac.”” Xét từ những ý nghĩa này, tài sản còn có thê phân chia tài sản thành tài sản thông thường và tài sản kinh doanh. Trong đời thường cũng như trong khoa học pháp luật, việc hiểu kinh doanh là gì dựa trên việc phân chia giữa những vấn đề thông thường và kinh doanh. Luật dân sự điều chỉnh những quan hệ thông thường của con người phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng để tồn tại.
Trong khi đó luật thương mại, luật kinh doanh điều chỉnh mỗi quan hệ của con người trong hoạt động làm ăn, kiếm lời để có thêm nhiều tài sản. Đặc trưng của làm ăn là hành vi thương mại trong khi đó đặc trưng của tiêu dùng là hành vi dân sự. Vì vậy để xác định tài sản kinh doanh cần phải dựa trên sự phân biệt này. Gan liền với chủ thé kinh doanh là các hành vi kinh doanh được Khoa Luật- Trường đại học khoa học xã hội và nhân van-DHQGHN giải thích từ Điều 3 của Luật Công ty 1991.
Điều 3 định nghĩa như sau: “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hay tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư sản xuất, đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích kiếm lời.” Định nghĩa này được giải thích bao gồm ba đặc điểm: + Thứ nhất, hành vi phải mang tính chất nghề nghiệp; + Thứ hai, hành vi phải diễn ra trên thị trường; + Thứ ba, hành vi có mục đích kiếm lời”. Vì vậy tài sản kinh doanh là tài sản gắn với quá trình kinh doanh bao gồm các tài sản tạo thành vốn kinh doanh, các tài sản hỗ trợ cho quá trình sản xuất, kinh doanh, các công cụ, phương tiện tạo ra trong các giao dịch thương mại, các thành phẩm và bán thành phẩm được lưu trữ hay đã đưa vào lưu thông trước khi đến tay người tiêu dùng. ? Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (đồng chủ biên), Binh luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2015 của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Ha Nội, 2017, tr.
3 Khoa Luật- Trường đại học khoa học xã hội và nhân vian-DHQGHN, Gido trình luật kinh tế Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 1997, tr. 7 Như vậy tài sản kinh doanh cực kỳ phong phú và phức tạp. Nhiều loại tài sản kinh doanh mà trong đời thường không có ví dụ như chứng khoán, phần vốn góp trong công ty, quyền sở hữu công nghiệp như nhãn hiệu.
Tài sản có một vai trò rất quan trọng trong các hoạt động kinh tế - xã hội, có vai trò không thể thiếu trong việc đáp ứng các nhu cau vật chất và tinh than của con người. Nó là đối tượng của các giao dịch dân sự và giao dịch thương mại diễn ra liên tục, thường ngày trong đời sống kinh tế, xã hội. Vì vậy ngay bản thân những tài sản đang giao dịch này cũng có những tải sản là tài sản kinh doanh. Ví dụ: Công ty A đang sản xuất, kinh doanh trên một bất động sản thuê từ một chủ sở hữu khác.
Hợp đồng thuê đã hết hạn, nhưng nhu cầu thuê tiếp bat động sản này dang lớn vì đừng lại thì ảnh hưởng rất xấu tới sản xuất, kinh doanh của công ty A. Quá trình đàm phán thuê tiếp đang diễn ra mặc dù hợp đồng thuê đã hết hạn, thì quyền sử dụng tài sản đó vẫn được xem là tài sản kinh doanh. Một tài sản ví dụ như ghế mát- xa tự động đang được một khách hàng đang trong thời gian dùng thử theo thỏa thuận với người bán hàng thì vẫn được coi là tài sản kinh doanh.