phần mở đầu, kết luận và bốn phụ lục, bài luận gồm co: Chuong 1: Co so ly luan Chương 2: Phuong pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 4: Giải pháp CHUONG 1. Chi tiêu cho giáo dục 1. Một số khái niệm Gia đình (family) là một đơn vi xã hội xác định với các mối quan hệ họ hàng, có cùng chung huyết tộc. Hộ gia đình là đơn vị xã hội làm cơ sở cho phân tích kinh tế; các nguồn lực được góp thành vốn chung, cùng chung một ngân sách; cùng chung sống dưới một mái nhà, ăn chung, mọi người đều hưởng phan thu nhập và mọi quyết định đều dựa trên ý kiến chung của các thành viên là người lớn trong hộ gia đình.
Gia đình chỉ được xem là hộ gia đình (household) khi các thành viên gia đình có cùng chung Theo tổng hợp từ Jandhyala (2002), chi tiêu cho giáo dục được thực hiện theo hai lĩnh vực: từ tư nhân và từ các tổ chức dé cấu thành lĩnh vực xã hội. Chi tiêu cá nhân đề cập đến những chi tiêu được thực hiện bởi học sinh hoặc cha mẹ học sinh cho những hàng hóa, dịch vụ liên quan tới giáo dục. Chi tiêu của các tô chức được gọi là chi tiêu công, cụ thé hơn, là chi tiêu của chính phủ vào giáo dục. Ca hai loại chi tiêu trên có ý nghĩa không chỉ vì quy mô mà còn vì bản chất của chúng, ví dụ chỉ tiêu công cung cấp cơ sở vật chất cho giáo dục, nhưng chỉ chỉ tiêu gia đình mới cho phép sử dụng chúng.
Hai loại chỉ tiêu liên quan và phụ thuộc lẫn nhau, nếu không có một trong hai, khả năng phân bồ tài nguyên cho giáo dục sẽ bị giảm sút. Tuy nhiên, trong một thời gian dài ở đa số các nước đang phát triển, việc thu thập dữ liệu hộ gia đình thường được coi là không cần thiết, trong khi thông tin về chỉ tiêu công cho giáo dục lại được thống kê khá tốt và đáng tin cậy. Dĩ nhiên, sẽ không có nhiều nghiên cứu về mức độ chi tiêu của hộ gia đình cho giáo duc và các yếu tố quyết định nó. Điều này dẫn đến những giả định không chính xác về mức độ, đặc điểm và chất lượng của chỉ tiêu giáo dục câp độ vi mô.
Như vậy, chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình bao gồm tất cả những khoản tiền hoặc hiện vật được quy ra tiền để người học được sử dụng các hàng hóa, dịch vụ liên quan đến giáo dục; được bản thân người học hoặc thành viên khác trong gia đình có chung cơ sở kinh tế chỉ trả. Khái quát xu hướng chỉ tiêu cho giáo dục 1. Xu hướng chỉ tiêu cho giáo dục trên thé giới a) Tương quan giữa chỉ tiêu công và chỉ tiêu hộ gia đình trong giáo duc Theo Educational Finance Watch, từ năm 2009-2019, trung bình mỗi năm chi tiêu cho giáo dục trên toàn cầu tăng khoảng 2,6%, chậm hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế và chia thành hai xu hướng. Trong đó các quốc gia thu nhập cao chiếm khoảng 2/3 tổng mức chi, các quốc gia thu nhập thì giữ tốc độ tăng trưởng mức chỉ này cao hơn đáng kể.
Nhìn chung, sự đóng góp của các chính phủ tương đối 6n định theo thời gian với khoảng 82%, 17% đến từ hộ gia đình, còn lại là từ hỗ trợ phát triển. Ở các nước nghèo hơn, các hộ gia đình có xu hướng đóng góp nhiều hơn cho giáo dục. Sau đại dịch Covid-19, các quốc gia có mức thu nhập trung bình- thấp tiếp tục có xu hướng giảm chi ngân sách giáo dục; trên thực tế, 30% các nước đã thực hiện cắt giảm. Tại nhóm nước này, chi tiêu cho giáo dục từ hộ gia đình chiếm 43% tổng chi cho giáo dục trong nước, với tổng mức chi tư nhân cao gap gan 6 lần so với nhóm nước giàu hơn (tỉ trọng 16%).
[48] Theo OECD 2019, giai đoạn 2010-2016, tỉ trọng chi giáo dục đến từ các nguồn tư nhân tăng 3 %, tương ứng với mức giảm trung bình từ nguồn công, một số nước tăng thêm 7%. Trung bình, tỉ lệ chi tư nhân đạt 8% ở cấp tiểu học- trung học cơ sở, 14% ở bậc trung học phổ thông và lên đến 74% ở bậc đại học. Dé giảm bớt gánh nặng tài chính, các chính phủ có xu hướng giảm chi tiêu công cho giáo dục đại học, đồng nghĩa với việc chi tiêu tư nhân đang trở thành trụ cột chính ở cấp học này. [32] Tuy nhiên, các hộ gia đình có thể cảm thấy buộc phải đầu tư vào giáo dục, nếu các nỗ lực của cộng đồng không được phản ánh thỏa đáng trong chất lượng của nhân lực, vật lực phục vụ cho giáo dục.
Khi đó, ngay cả những hộ nghèo nhất cũng buộc phải chỉ tiêu thêm cho giáo dục (giáo dục ngoài công lập, giáo dục bổ sung. Chất lượng cơ sở vật chất trong các cơ sở giáo dục công lập càng kém, mức chi tư nhân càng tăng. Có thê nói, các khoản đầu tư từ hộ thay thế các khoản đầu tư công vào giáo dục vì chúng giúp lấp đầy các khoảng trống về chất lượng khi đầu tư công bị cắt giảm. 10 Mặt khác, nếu chính phủ cung cấp chất lượng giáo dục công tốt hơn, các hộ cũng sẵn sàng đóng góp thêm.
Gioacchino và cộng sự (2019) chỉ ra trình độ học van của cha mẹ cũng ảnh hưởng đến việc nhập học của con cái, các gia đình khá giả mà cha mẹ có học thức, địa vị xã hội thì con sẽ ảnh hưởng nhiều và được nhiều lợi thế hơn và có cơ hội cao hơn, hưởng lợi lâu dài từ chi tiêu công cho giáo dục. Ngược lại, các cá nhân có địa vi xã hội thấp hơn có nhiều khả năng phản đối chi tiêu hơn nữa cho giáo dục và yêu cầu các hình thức phân phối lại chi tiêu trực tiếp hơn. Nhiều nghiên cứu giải thích mức đầu tư cao cho giáo dục của hộ gia đình bằng ba lý do: (i) Chính phủ thiếu nguồn lực thích hợp dé tài trợ đầy đủ cho giáo duc; (ii) Niềm tin rằng các khoản đầu tư từ gia đình sẽ khiến trẻ em nghiêm túc và đạt kết quả cao hơn trong học tập; (iii) Khai thác tối đa mức độ sẵn sàng chi trả cho giáo dục của các hộ gia đình dé giảm bớt áp lực lên chỉ tiêu công. Ngược lại, một số học giả cho rằng các hộ gia đình không cần thiết chi tiêu nhiều cho giáo dục, dựa trên các căn cứ: (1) Hiện tượng chi tiêu hộ gia đình ở các cấp học thấp đi ngược với tinh thần giáo dục miễn phí và bắt buộc ở nhiều quốc gia, và một số điều được ghi nhận trong Công ước về Quyền trẻ em (Liên Hợp Quốc); (ii) Chi tiêu hộ gia đình làm gia tăng sự bat bình đăng trong hệ thống giáo dục, cản trở nhu cầu học tập của người nghèo; (iii) Chi tiêu hộ gia đình cho giáo dục không phù hợp với bản chất và triết lý của giáo dục vì nó biến giáo dục trở thành một thứ hàng hóa/ dịch vụ thông thường; (iv) Hộ gia đình chi cho giáo dục càng cao càng chứng tỏ việc cung cấp giáo dục của chính phủ phần nào kém hiệu quả.
Tóm lại, hệ số co giãn thu được từ một sỐ nghiên cứu cho thấy chi tiêu cho giáo dục của chính phủ và hộ gia đình bổ sung cho nhau. Nếu chính phủ muốn huy động tài chính hộ gia đình đối với giáo dục, chính phủ nên tăng phân bồ ngân sách cho lĩnh vực này. b) Giáo dục bối cảnh COVID-19 Khủng hoảng COVID-19 trên toàn cầu đã buộc nhiều quốc gia phải đóng cửa, giãn cách xã hội để ngăn dịch bệnh bùng phát, trong đó bao gồm tạm dừng hoặc hạn chế 11 cho học sinh đến trường, đổi sang hình thức trực tuyến hoặc truyền hình (tivi) (Pal & Vanijja, 2020). Trước khi dịch bệnh diễn ra, hệ thống giáo dục của một số quốc gia đang phát triển, ví dụ như ở Pakistan, đã bị suy yếu về cấu trúc, nên việc chuyên sang học ở nhà đã tạo nên vết đứt gãy trong ngành giáo dục- đào tạo.
Chất lượng giáo dục trong ngắn hạn biến đổi tùy thuộc vào sự đầy đủ của môi trường trực tuyến (bao gồm Internet, máy vi tính, điện thoại thông minh, tài liệu điện tử.) và khả năng tiếp cận công nghệ của giáo viên (Shim & Lee, 2020). Các chiến lược giãn cách xã hội có hiệu quả về mặt y tế, tuy nhiên về lâu dai có thể tôn hại về mặt giáo dục, bất chấp những phương thức học tập khác nhau nhăm thay thế cho việc đến trường truyền thống (Rogers & Sabarwal, 2020). Đại dịch đã bộc lộ những điểm yếu trong việc tiếp cận công nghệ thông tin của các hộ gia đình, nhất là những người sinh sống ở quốc gia thứ ba hoặc không ở thành phô. Đối với những gia đình nghẻo, không đáp ứng được tiện ích kĩ thuật số hoặc cha mẹ có học vấn thấp không đủ dé hướng dẫn con học, kết quả học tập của học sinh bị tác động nhiều hơn và có khả năng bỏ học cao hơn (Kuhfeld và cộng sự, 2020; Lustig và cộng sự, 2020).
Các gia đình cho con học trường tư hoặc con đi làm trước đó (vừa học vừa làm việc bán thời gian để chi tra cho việc học) cũng là nhóm bị ảnh hưởng nặng bởi sự cắt giảm lương và nhân sự đối với cả bố mẹ và lao động trẻ em: dé cho con nghỉ học hơn nếu không có sự hỗ trợ từ cộng đồng. Trong khi đó, những hộ trung lưu cho con học trong môi trường tiện nghỉ (đầy đủ đồ ăn, thiết bị điện tử, kết nối mạng) và có thể thuê gia sư riêng (Azevedo và cộng sự, 2020). Có thé thấy, trong đại dịch, những hộ gia đình thu nhập thấp buộc phải cắt giảm một phần hoặc toàn bộ (cho nghỉ học) chi tiêu cho giáo dục; nhưng nhóm thu nhập trung bình cao và cao lại có khả năng tăng mức chỉ này để giúp việc học của con cái thuận tiện và hiệu quả hơn. Do đó, bên cạnh việc hỗ trợ cơ sở vật chất cho học sinh khó khăn học từ xa, thì việc sử dụng bản đồ rủi ro COVID-19 (CRAM) và Hệ thống thông tin địa lý (GIS) dé khoanh vùng các trường học cần đóng cửa (thay vì đóng cửa trường học trên toàn vùng hoặc toàn quôc) là vô cùng cân thiệt.
12 c) Chỉ tiêu cho giáo dục bồ sung Một lượng lớn tài nguyên được tập trung vào hệ thống giáo dục bổ sung (giáo dục bóng tối)- hay còn được gọi với cái tên thân thuộc hơn ở Việt Nam- “học thêm day thêm”.