MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Than hoạt tính là một trong những chất hấp phụ lâu đời nhất và được sử dụng rộng rãi để xử lý nước và nước thải với nhiều mục đích như loại bỏ màu, mùi, vị không mong muốn và các tạp chất hữu cơ, vô cơ,. Than hoạt tính có thể được điều chế bằng cách nhiệt phân nguyên liệu chứa carbon như thực vật ở nhiệt độ dưới 1000 oC. Trong khi đó, sắn là loại cây lương thực có đặc tính nông học dễ trồng, là một trong những cây trồng có khả năng chịu hạn tốt nhất và thích nghi được với nhiều loại đất và nhiều vùng sinh thái khác nhau.
Hiện nay, cây sắn được trồng nhiều ở vùng Nam Trung Bộ Và Tây Nguyên. Lượng phụ phẩm thân cây sắn bị loại bỏ sau khi trồng sắn là khá lớn, khác với phụ phẩm của các cây lương thực khác như lúa, ngô, lạc,. được sử dụng trong chăn nuôi, thân cây sắn gần như chỉ thải bỏ/đốt bỏ sau mỗi vụ mùa. Trong khi đó chúng có thể tận dụng để chế tạo ra than hoạt tính có giá trị kinh tế, ngoài ra còn góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường do lượng dư phụ phẩm nông nghiệp gây ra.
Theo thống kê năm 2022, diện tích trồng sắn cả nước là 520 nghìn ha đứng thứ 3 về diện tích sau lúa và ngô. Chỉ riêng khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ và và Tây Nguyên đang có diện tích trồng sắn gần 265 nghìn ha, chiếm 50,9% diện tích của cả nước, năng suất trung bình đạt 19,4 tấn/ha. Chính vì vậy, phụ phẩm nông nghiệp từ quá trình trồng cây sắn ở khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ tương đối lớn nên việc tận dụng thân cây sắn để sản xuất than hoạt tính sẽ giúp giảm thiểu được chi phí sản xuất ngoài ra còn góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường do lượng dư phụ phẩm nông nghiệp gây ra. Tính chất hấp phụ của than hoạt tính phụ thuộc nhiều vào cấu trúc, đặc tính hóa học bề mặt của than, tức là phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu ban đầu và phương thức hoạt hóa chúng.
Quá trình điều chế gồm 2 bước: than hóa và hoạt hóa trong môi trường yếm khí. Hai bước này có thể thực hiện trong cùng 1 giai đoạn hoặc 2 giai đoạn với bước than hóa trước và hoạt hóa sau. Tác nhân hoạt hóa thường được sử dụng như khí CO2, Na2CO3, K2CO3, KOH, ZnCl2. Trong 2 nghiên cứu này, thân sắn và KOH được sử dụng như nguồn nguyên liệu carbon và tác nhân hoạt hóa.
Kết hợp hai bước than hóa và hoạt hóa đồng thời trong cùng một giai đoạn để chế tạo than hoạt tính có khả năng hấp phụ các chất kháng sinh ô nhiễm trong môi trường nước. Từ những cơ sở khoa học trên và xuất phát từ thực tiễn, chúng tôi chọn đề tài về “Nghiên cứu chế tạo than hoạt tính từ thân cây sắn ứng dụng hấp phụ chất kháng sinh trong môi trường nước” nhằm tạo ra vật liệu có khả năng hấp phụ tốt các chất hữu cơ nói chung và các chất kháng sinh nói riêng. Mục tiêu của đề tài Tổng hợp than hoạt tính từ thân cây sắn sử dụng chất hoạt hóa KOH và khảo sát khả năng hấp phụ các chất kháng sinh trong môi trường nước. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.
Đối tượng nghiên cứu - Thân cây sắn. - Tác nhân hoạt hóa KOH. - Chất kháng sinh tetracycline (TC) trong môi trường nước.2 Phạm vi nghiên cứu - Điều chế than hoạt tính từ nguồn nguyên liệu thân cây sắn bằng cách than hóa và sau đó được hoạt hóa bằng KOH ở quy mô phòng thí nghiệm. - Đánh giá khả năng hấp phụ chất kháng sinh tetracycline trong dung dịch nước của vật liệu than hoạt tính điều chế.
Nội dung nghiên cứu - Tổng hợp và đặc trưng vật liệu than và than hoạt tính từ thân cây sắn. - Khảo sát khả năng hấp phụ của vật liệu than và than hoạt tính đối với chất kháng sinh TC trong môi trường nước. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5. Phương pháp luận - Sử dụng phương pháp tổng hợp tài liệu - Ứng dụng các lý thuyết hấp phụ trong thực nghiệm.
- Sử dụng các công cụ toán học để xử lý số liệu thực nghiệm và tối ưu hóa các điều kiện thực nghiệm. Phương pháp nghiên cứu a) Phương pháp điều chế vật liệu hấp phụ: - Điều chế than hoạt tính từ nguyên liệu thân cây sắn với tác nhân hoạt hóa KOH bằng phương pháp nhiệt phân trong điều kiện yếm khí. b) Phương pháp đặc trưng vật liệu hấp phụ: - Phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD) để tìm hiểu cấu trúc và những thay đổi trong cấu trúc tinh thể của vật liệu tổng hợp. - Phương pháp phổ hồng ngoại (IR) để xác định các liên kết.
- Phương pháp phổ tán xạ năng lượng tia X (EDX) để xác định thành phần nguyên tố trong vật liệu. - Phương pháp hiển vi điện tử quét (SEM) để nghiên cứu hình thái bề mặt của các vật liệu tổng hợp. - Phương pháp hấp phụ và giải hấp phụ nitrogen ở 77K kết hợp với phương trình đẳng nhiệt Brunauer-Emmett-Teller (BET) để xác định diện tích bề mặt, kích thước mao quản của vật liệu tổng hợp. c) Phương pháp đánh giá khả năng hấp phụ của than hoạt tính điều chế được - Đánh giá khả năng hấp phụ của vật liệu thông qua thí nghiệm hấp phụ các chất kháng sinh trong dung dịch nước.
Hàm lượng chất kháng sinh còn lại được xác định bằng phương pháp đo quang. Số liệu thực nghiệm được xử lý bằng 4 các phương pháp phù hợp từ đó rút ra mối quan hệ giữa điều kiện thí nghiệm và tính chất vật liệu. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. Ý nghĩa khoa học Quy trình điều chế than hoạt tính từ thân cây sắn bằng tác nhân hoạt hóa KOH sẽ góp phần vào đa dạng phương pháp điều chế than hoạt từ phụ phẩm nông nghiệp nói chung và thân cây sắn nói riêng.
Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài không chỉ là điều chế ra một loại vật liệu hấp phụ mà còn góp phần sử dụng tận thu nguồn phụ phẩm nông nghiệp sẵn có và tiềm năng ở nước ta, đồng thời góp phần bảo vệ môi trường vùng nông thôn khỏi ảnh hưởng ô nhiễm môi trường do việc thải bỏ phụ phẩm nông nghiệp nói chung và thân cây sắn nói riêng. Giới thiệu chung về vật liệu hấp phụ ứng dụng trong hấp phụ chất kháng sinh Phương pháp hấp phụ các chất kháng sinh cũng là một hướng nghiên cứu hấp dẫn nhất định nhờ các tính năng nổi trội của phương pháp này như hiệu quả hấp phụ cao, chi phí thấp và vận hành đơn giản. Nhiều nhà khoa học đã thực hiện hấp phụ để loại bỏ kháng sinh tetracycline ra khỏi môi trường nước bằng một số vật liệu như sét smectite,1 montmorillonite,2 diatomite biến tính,3 đá bọt,4 hạt chitosan,5 Aluminium oxide,6 than hoạt tính7 và than hoạt tính dạng hạt.8 Li và cộng sự đã khảo sát sự hấp phụ tetracycline trên vật liệu smectite. Kết quả thực nghiệm cho thấy, sự hấp phụ tetracycline trên vật liệu smectite tuân theo mô hình động học bậc hai với dung lượng hấp phụ cực đại (theo mô hình Langmuir) đạt 460 mg/g (hoặc 0,88 mmol/g).
Giá trị pH của dung dịch tetracycline có ảnh hưởng đến hiệu quả hấp phụ tetracycline trên vật liệu smectite khi nồng độ tetracycline đầu vào lớn do liên quan đến trạng thái tồn tại của tetracycline trong dung dịch. Từ mối tương quan định lượng giữa các cation được giải hấp và lượng tetracycline bị hấp phụ cho thấy sự hấp phụ tetracycline trên smectite tuân theo cơ chế trao đổi cation.1 Choi và cộng sự đã xử lý bảy chất kháng sinh thuộc lớp tetracycline từ các mẫu nước giả lập và nước sông bằng phương pháp keo tụ và hấp phụ trên than hoạt tính dạng hạt (GAC). Trong nghiên cứu này, cả hai phương pháp đều có hiệu quả loại bỏ các tetracycline và hiệu quả loại bỏ phụ thuộc vào loại kháng sinh trong lớp tetracycline. Đối với các kháng sinh tetracycline, doxycycline-hyclate và chlortetracycline-HCl, việc loại bỏ bằng cách hấp phụ trên GAC là hiệu quả hơn nhiều so với phương pháp keo tụ.8 Gao và cộng sự đã nghiên cứu sự hấp phụ kháng sinh tetracycline trên vật liệu graphene oxide (GO).
Kết quả thu được cho thấy, tetracycline hấp phụ mạnh trên bề mặt GO nhờ tương tác π-π và liên kết cation-π. Đường đẳng nhiệt hấp phụ của tetracycline trên vật liệu graphene oxide phù hợp tốt với mô hình Langmuir và Temkin. Dung lượng hấp phụ cực đại theo lý thuyết dựa trên mô hình Langmuir là 313 mg/g, kết quả này là tương đương với dữ liệu thu được từ thực nghiệm. Động học của sự hấp phụ tetracycline trên vật 6 liệu graphene oxide phù hợp mô hình động học bậc hai với hằng số tốc độ hấp phụ 0,065 g/mg.
Khả năng hấp phụ của tetracycline trên GO giảm khi sự tăng giá trị pH hoặc nồng độ Na+.9 Việc loại bỏ các chất kháng sinh trong môi trường và trong hệ thống thủy sinh dành được nhiều sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học ở Việt Nam. Gần đây Phạm Thị Vân và cộng sự (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN) báo cáo về khả năng hấp phụ chất kháng sinh cefotaxime sodium và amoxicillin trong môi trường nước sử dụng vật liệu than hoạt tính và than hoạt tính biến tính. Trong nghiên cứu này, các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng hấp phụ cefotaxim natri (CFN), amoxicillin (AMX) trên các vật liệu than hoạt tính (AC), than hoạt tính biến tính bởi các hóa chất khác nhau (AC-Br, AC-S, AC-HNO3, AC- H2O2) đã được khảo sát. Kết quả thực nghiệm cho thấy AMX hấp phụ tốt nhất ở pH= 6 và thời gian từ 90 - 120 phút.
CFN hấp phụ tối ở pH = 2, thời gian từ 120 đến 180 phút. Sự hấp phụ của AMX và CFN tuân theo phương trình hấp phụ đẳng nhiệt Langmuir. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, than hoạt tính biến tính với lưu huỳnh nguyên tố (AC-S) có diện tích bề mặt 556,02 m²/g, có khả năng hấp phụ tốt nhất để loại bỏ AMX, CFN ra khỏi môi trường nước. Bước đầu khảo sát sự hấp phụ đồng thời AMX, CFN cho thấy, có sự cạnh tranh dẫn đến cho hiệu quả hấp phụ kém hơn so với khi hấp phụ từng kháng sinh riêng lẻ.10 Tác giả Nguyễn Ngọc Trung và nhóm nghiên cứu đã thực hiện sự biến đổi bề mặt các hạt aluminium oxide bằng polyanion poly styrenesulfonate (PSS - loại polymer được sử dụng loại bỏ các ion, ứng dụng trong kỹ thuật và y tế) thu được vật liệu mới, có khả năng hấp phụ xử lý kháng sinh ciprofloxacin trong nước thải y tế.