Tổng quan nghiên cứu

Khoa học và công nghệ nano đang tạo ra những bước ngoặt vượt bậc trong y sinh học hiện đại, đặc biệt là các cấu trúc hạt kim loại quý có kích thước từ 1 đến 100 nm. Trong số các cấu trúc đó, thanh nano vàng nổi lên như một vật liệu đa năng nhờ sở hữu diện tích bề mặt lớn, tính tương thích sinh học cao và khả năng khuếch đại tín hiệu điện từ mạnh mẽ lên tới 10^6 lần. Tuy nhiên, việc tổng hợp thanh nano vàng có độ đơn phân tán cao, kiểm soát chặt chẽ tỷ số cạnh và khảo sát tính chất quang một cách có hệ thống để phục vụ chế tạo đế tăng cường tán xạ Raman bề mặt vẫn là thách thức lớn tại nhiều phòng thí nghiệm trong nước.

Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài nghiên cứu tập trung giải quyết bài toán tối ưu hóa quy trình chế tạo thanh nano vàng bằng phương pháp phát triển mầm. Mục tiêu cụ thể là điều khiển chính xác tỷ số kích thước giữa chiều dài và chiều rộng của thanh, khảo sát sự phụ thuộc quang học vào các yếu tố hóa học tham gia phản ứng và kiểm chứng khả năng phát hiện chất màu hữu cơ độc hại. Phạm vi thực nghiệm được triển khai đồng bộ tại Phòng thí nghiệm Vật lý chất rắn thuộc Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên trong năm 2021.

Nghiên cứu mang ý nghĩa học thuật và thực tiễn sâu sắc khi cung cấp quy trình điều chỉnh đỉnh hấp thụ plasmon dọc từ bước sóng 735,5 nm đến cực đại 869,5 nm nằm trọn trong vùng hồng ngoại gần. Kết quả đạt được mở ra tiền đề quan trọng cho việc sản xuất các cảm biến quang học có độ nhạy siêu cao, có khả năng phát hiện phân tử chất màu hữu cơ Indigo ở ngưỡng nồng độ vết cỡ 10^-8 M, phục vụ công tác kiểm nghiệm an toàn thực phẩm và quan trắc môi trường.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nền tảng lý thuyết của nghiên cứu dựa trên thuyết tán xạ Mie năm 1908 và sự hiệu chỉnh mở rộng của Gans năm 1912 cho các hạt nano dạng que elip. Theo lý thuyết Gans, khi các hạt kim loại chuyển từ dạng cầu đối xứng sang dạng thanh bất đẳng hướng, hiện tượng cộng hưởng plasmon bề mặt sẽ tách thành hai mode dao động riêng biệt. Mode thứ nhất là dao động plasmon theo chiều ngang với dải hấp thụ cố định trong vùng khả kiến khoảng 512 đến 520 nm. Mode thứ hai là dao động plasmon theo chiều dọc có cường độ rất mạnh và dịch chuyển tuyến tính về phía bước sóng dài theo công thức thực nghiệm: bước sóng hấp thụ cực đại plasmon dọc bằng 95 nhân với tỷ số cạnh cộng 420 nm.

Bên cạnh đó, hiệu ứng tăng cường tán xạ Raman bề mặt được lý giải chủ yếu qua cơ chế tăng cường điện từ trường cục bộ, đóng góp từ 10^8 đến 10^10 lần vào tổng hệ số tăng cường tín hiệu quang học. Khung nghiên cứu vận dụng 4 khái niệm cốt lõi bao gồm: tỷ số cạnh giữa chiều dài và chiều rộng của thanh nano, hiệu ứng cộng hưởng plasmon bề mặt cục bộ, cơ chế định hướng tăng trưởng bất đẳng hướng nhờ chất hoạt động bề mặt tạo khuôn, và hệ số tăng cường tán xạ bề mặt của chất phân tích.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp thực nghiệm phát triển mầm gồm hai giai đoạn nối tiếp. Giai đoạn tạo mầm sử dụng muối HAuCl4 nồng độ 0,01 M kết hợp chất hoạt động bề mặt cetyl trimethylammonium bromide nồng độ 0,2 M và chất khử mạnh NaBH4 nồng độ 0,01 M ở nhiệt độ phòng 30 độ C trong 2 phút để tạo hạt mầm tinh thể kích thước từ 2 đến 6 nm. Giai đoạn nuôi mầm sử dụng chất khử yếu axit ascorbic nồng độ 0,25 M, hỗn hợp chất tạo khuôn mềm và chất xúc tác định hướng cấu trúc AgNO3 nồng độ 0,01 mM với thể tích biến thiên từ 0 đến 350 microlit.

Về phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu khảo sát cỡ mẫu gồm 7 dải nồng độ ion bạc khác nhau từ 0 đến 0,32 mM và 4 dải nồng độ chất hoạt động bề mặt. Quy trình chọn mẫu thực nghiệm tuân thủ nguyên tắc kiểm soát biến số đơn lẻ nhằm cô lập chính xác ảnh hưởng của từng tác nhân lên hình thái hạt. Phương pháp phân tích phổ hấp thụ tử ngoại khả kiến được lựa chọn vì cho phép theo dõi trực tiếp các mode dao động plasmon trong dải quét từ 400 đến 1100 nm. Cấu trúc và hình thái vi mô được xác thực qua kính hiển vi điện tử truyền qua độ phân giải cao với độ phóng đại 1.000.000 lần và phương pháp nhiễu xạ tia X sử dụng bức xạ có bước sóng 0,154056 nm quét góc 2 theta từ 10 đến 70 độ. Toàn bộ chuỗi thực nghiệm được hoàn thành trong năm 2021.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, ảnh hiển vi điện tử truyền qua phân giải cao chỉ ra rằng các hạt mầm ban đầu có khoảng cách mặt phẳng mạng là 0,230 nm và hằng số mạng tinh thể đạt 0,40 nm. Sau giai đoạn nuôi mầm, sản phẩm tạo thành là các thanh nano vàng có kích thước đồng đều khoảng 10 nhân 40 nm. Phổ nhiễu xạ tia X ghi nhận 3 đỉnh nhiễu xạ mạnh tại các góc 38,2 độ, 44,4 độ và 64,6 độ tương ứng với các mặt phẳng tinh thể lập phương tâm mặt. Đáng chú ý, tỷ số cường độ giữa hai mặt phẳng 220 và 111 đạt xấp xỉ 0,35, cao hơn khoảng 100% so với vàng khối truyền thống chỉ đạt từ 0,16 đến 0,19, chứng minh tinh thể ưu tiên phát triển dọc theo trục tinh thể định hướng.

Thứ hai, nồng độ ion bạc đóng vai trò quyết định đến hiệu suất tạo thanh và bước sóng cộng hưởng. Mẫu đối chứng không có bạc chỉ tạo hạt cầu với một đỉnh hấp thụ duy nhất tại 530 nm. Khi bổ sung thể tích dung dịch bạc từ 90 microlit tương đương 0,085 mM lên 300 microlit tương đương 0,28 mM, đỉnh hấp thụ plasmon dọc dịch đỏ mạnh mẽ từ 735,5 nm lên cực đại 869,5 nm. Đồng thời, tỷ số độ hấp thụ quang giữa hai trục tăng từ 1,43 lên 3,27, tương ứng mức tăng trưởng hiệu suất tạo thanh lên tới 128,67%. Tuy nhiên, khi tăng lượng bạc lên 350 microlit, đỉnh plasmon dọc lại dịch ngược về 849,5 nm và tỷ số hấp thụ quang giảm xuống 3,17.

Thứ ba, tính chất quang học của thanh nano vàng thể hiện độ nhạy vượt trội đối với chiết suất môi trường bao quanh. Khi nồng độ chất hoạt động bề mặt giảm từ 0,033 M xuống 0,00001 M hoặc khi gắn kết các đại phân tử sinh học như albumin huyết thanh bò nồng độ 10 mg/ml, glutathione nồng độ 20 mg/ml hay polyethylene glycol nồng độ 5 mg/ml, đỉnh hấp thụ plasmon dọc đều ghi nhận sự dịch chuyển bước sóng rõ rệt.

Thứ tư, khi ứng dụng thanh nano vàng kích thước 10 nhân 40 nm làm đế tăng cường tán xạ sau 3 chu kỳ ly tâm ở tốc độ 14.000 vòng/phút, tín hiệu Raman của chất màu hữu cơ Indigo được khuếch đại rõ rệt. Phổ Raman hiển thị các dải dao động đặc trưng sắc nét tại 1355 cm^-1 và 1572 cm^-1 ngay cả khi nồng độ chất màu giảm dần từ 10^-4 M xuống mức cực loãng là 10^-8 M.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của sự chuyển dịch tính chất quang được giải thích qua cơ chế khử dưới thế của ion bạc trên bề mặt tinh thể vàng. Trong quá trình phản ứng, ion bạc bị khử ở thế âm hơn thế khử tiêu chuẩn và ưu tiên bám dính lên mặt phẳng mạng 110, kết hợp với các mixen chất hoạt động bề mặt tạo thành lớp rào cản ngăn chặn sự bồi đắp nguyên tử vàng theo phương ngang. Do đó, các nguyên tử vàng tự do chỉ có thể kết tinh dọc theo hướng trục 100, tạo nên hình thái thanh thon dài. Tuy nhiên, khi nồng độ ion bạc vượt quá ngưỡng bão hòa 0,28 mM, lớp bạc bao phủ toàn bộ các mặt tinh thể, dẫn đến sự phát triển đồng hướng theo chiều rộng làm giảm tỷ số cạnh.

So sánh với các nghiên cứu khử hóa học truyền thống, phương pháp nuôi mầm có kiểm soát xúc tác bạc trong luận văn mang lại hiệu suất tạo thanh đạt trên 90%, vượt trội hơn hẳn các phương pháp quang hóa chỉ tạo ra lượng lớn tạp chất hạt cầu. Dữ liệu thực nghiệm có thể được mô tả sinh động qua đồ thị hồi quy tuyến tính biểu diễn mối tương quan giữa bước sóng đỉnh plasmon dọc và tỷ số cạnh với độ dốc 95 nm trên mỗi đơn vị tỷ số cạnh, cũng như qua biểu đồ logarit phản ánh mối quan hệ tuyến tính giữa logarit cường độ pic 1355 cm^-1 và logarit nồng độ phân tử chất màu từ 10^-4 M đến 10^-8 M.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết quả đạt được, nghiên cứu đưa ra 4 khuyến nghị then chốt nhằm thúc đẩy việc chuyển giao và ứng dụng vật liệu nano vào thực tiễn:

Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình tổng hợp thanh nano vàng ở quy mô thử nghiệm bán công nghiệp. Nhóm nghiên cứu phòng thí nghiệm vật lý cần mở rộng thể tích mẻ phản ứng từ 10 ml lên mức 500 ml, kiểm soát sai số kích thước dưới 5% và duy trì hiệu suất tạo thanh ổn định trên 95% trong lộ trình từ quý 1 đến quý 3 năm 2024.

Thứ hai, tối ưu hóa quy trình làm sạch và biến tính bề mặt hạt nano vàng để chế tạo đế cảm biến thương mại. Phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ nano cần hoàn thiện kỹ thuật ly tâm 4 chu kỳ ở tốc độ 15.000 vòng/phút nhằm loại bỏ hoàn toàn dư lượng hóa chất hoạt động bề mặt, nâng hệ số tăng cường tín hiệu tán xạ bề mặt vượt mốc 10^7 và hạ giới hạn phát hiện chất màu xuống 10^-10 M trong giai đoạn 6 tháng cuối năm 2024.

Thứ ba, thiết kế và phát triển thiết bị quang học phân tích cầm tay tích hợp đế nano vàng. Các đơn vị nghiên cứu cần phối hợp với doanh nghiệp công nghệ chế tạo kit thử nghiệm nhanh, rút ngắn thời gian phân tích chất màu độc hại tại thực địa xuống dưới 3 phút với độ chính xác định lượng đạt trên 98% trong kế hoạch giai đoạn 2025 đến 2026.

Thứ tư, mở rộng thử nghiệm tiền lâm sàng về khả năng quang nhiệt tiêu diệt tế bào ác tính. Các viện y học phóng xạ và ung bướu nên tận dụng đỉnh hấp thụ plasmon tại bước sóng 869,5 nm để kích hoạt nguồn laser hồng ngoại bước sóng 808 nm có công suất 85 W/cm2, hướng tới mục tiêu tiêu diệt trên 90% tế bào bệnh mà không làm tổn thương các mô lành xung quanh trong giai đoạn 2025 đến 2027.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và dữ liệu thực nghiệm của luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chuyên môn:

Nhóm thứ nhất là học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên thuộc các chuyên ngành Vật lý chất rắn, Khoa học vật liệu và Hóa học nano. Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm chi tiết về động học phát triển tinh thể, phương pháp giải mã phổ nhiễu xạ tia X và mô hình Gans giải thích hiệu ứng cộng hưởng plasmon bề mặt.

Nhóm thứ hai là các kỹ sư phân tích tại các trung tâm kiểm định an toàn vệ sinh thực phẩm và viện quan trắc môi trường. Luận văn cung cấp quy trình chế tạo đế cảm biến quang học có khả năng xác định dư lượng phẩm màu công nghiệp và độc chất hữu cơ ở nồng độ cực nhỏ cỡ 10^-8 M mà không cần các bước xử lý mẫu phức tạp.

Nhóm thứ ba là các nhà phát triển công nghệ cảm biến sinh học tại các doanh nghiệp thiết bị y tế. Quy trình gắn kết các phân tử tương hợp sinh học như albumin huyết thanh bò hay chuỗi polyethylene glycol lên thanh nano vàng là tài liệu hướng dẫn giá trị để chế tạo các que thử phát hiện kháng nguyên nhanh.

Nhóm thứ tư là các bác sĩ và nhà nghiên cứu y học hạt nhân định hướng điều trị ung thư. Số liệu quang nhiệt học về khả năng hấp thụ năng lượng ánh sáng chuyển hóa thành nhiệt độ cục bộ tại bước sóng hồng ngoại gần cung cấp luận cứ khoa học để thiết kế các phác đồ điều trị đích không xâm lấn.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Vì sao thanh nano vàng lại xuất hiện hai đỉnh cộng hưởng plasmon thay vì một đỉnh như hạt nano hình cầu?

Trả lời: Do cấu trúc dạng thanh có tính bất đẳng hướng quang học, các electron dẫn tự do phân tách thành hai dao động tập thể độc lập. Dao động theo phương ngang tạo đỉnh hấp thụ tại vùng sóng ngắn 512 đến 520 nm, trong khi dao động dọc theo trục dài tạo đỉnh plasmon cực mạnh tại vùng hồng ngoại gần từ 735,5 đến 869,5 nm.

Câu hỏi 2: Nồng độ ion bạc quyết định kích thước và tính chất quang của thanh nano như thế nào?

Trả lời: Ion bạc đóng vai trò là chất định hướng cấu trúc thông qua hiện tượng khử dưới thế trên các mặt bên của tinh thể. Khi nồng độ bạc tăng từ 0,085 mM lên 0,28 mM, bước sóng hấp thụ dọc tăng từ 735,5 nm lên đỉnh cao nhất 869,5 nm. Nếu vượt quá ngưỡng 0,28 mM, thanh nano bị ngắn lại và bước sóng dịch lùi về 849,5 nm.

Câu hỏi 3: Tại sao cần thực hiện ly tâm làm sạch chất hoạt động bề mặt trước khi đo tán xạ Raman?

Trả lời: Hóa chất tạo khuôn cetyl trimethylammonium bromide bám rất chặt trên bề mặt thanh nano vàng và có thể chắn mất các vị trí hấp phụ của phân tử mục tiêu. Việc ly tâm 3 lần ở tốc độ 14.000 vòng/phút trong 30 phút giúp loại bỏ lớp cản này, tạo điều kiện cho phân tử chất màu tiếp xúc trực tiếp với vùng điện trường tăng cường.

Câu hỏi 4: Đế tăng cường tán xạ bằng thanh nano vàng phát hiện được chất màu Indigo ở nồng độ bao nhiêu?

Trả lời: Thực nghiệm chứng minh đế nano vàng kích thước 10 nhân 40 nm có thể ghi nhận rõ ràng các đỉnh dao động phân tử của chất màu Indigo từ nồng độ 10^-4 M xuống tới ngưỡng cực thấp là 10^-8 M, với đỉnh tín hiệu cực đại sắc nét tại vị trí dịch chuyển Raman 1355 cm^-1.

Câu hỏi 5: Thanh nano vàng có tiềm năng gì trong công tác điều trị ung thư hiện đại?

Trả lời: Nhờ khả năng hấp thụ cực mạnh trong vùng hồng ngoại gần với bước sóng từ 800 đến 870 nm, thanh nano vàng có thể hấp thụ ánh sáng laser có công suất 85 W/cm2 để chuyển đổi quang năng thành nhiệt lượng cục bộ đạt hiệu suất trên 20%, giúp đốt cháy có chọn lọc các tế bào ung thư mà không gây hại mô xung quanh.

Kết luận

  • Công trình đã thiết lập thành công quy trình điều khiển hình thái thanh nano vàng kích thước đồng đều 10 nhân 40 nm bằng phương pháp phát triển mầm hai giai đoạn.
  • Đã xác định được nồng độ ion bạc tối ưu tại ngưỡng 0,28 mM, tương ứng với tỷ số hấp thụ quang đạt cực đại 3,27 và bước sóng cộng hưởng plasmon dọc đạt 869,5 nm.
  • Phổ nhiễu xạ tia X chứng minh vật liệu chế tạo có cấu trúc tinh thể lập phương tâm mặt với hướng phát triển ưu tiên dọc theo các mặt phẳng mạng có chỉ số 110.
  • Ứng dụng thành công vật liệu làm đế cảm biến tán xạ Raman bề mặt với khả năng nhận diện chính xác chất màu hữu cơ Indigo ở nồng độ vết đạt ngưỡng 10^-8 M.
  • Kế hoạch nghiên cứu tiếp theo sẽ tập trung vào việc thử nghiệm độc tính sinh học trên mô hình động vật và tích hợp đế cảm biến vào thiết bị quang phổ cầm tay trong giai đoạn 2024 đến 2026.

Bạn đọc và các đơn vị nghiên cứu quan tâm có thể liên hệ trực tiếp với nhóm tác giả tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên để tiếp cận quy trình công nghệ và hợp tác phát triển các ứng dụng cảm biến y sinh.