CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CHẾ TÀI BUỘC THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG 1. Khái niệm và đặc điểm của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng 1. Khái niệm chế tài trong thương mại Khi một hợp đồng thương mại được xác lập thì mong muốn hay ý chí ban đầu của các bên là hướng đến việc hợp đồng được thực hiện để đạt được các mục đích giao kết của mình, mục đích đó có thể là mục đích bán được hàng, cung cấp được dịch vụ để thu lại một khoản tiền hay mua được hàng, sử dụng được dịch vụ,… Tuy nhiên, thực tế quan hệ thương mại không phải lúc nào cũng sẽ thuận lợi diễn ra như mong muốn ban đầu của các bên mà trong rất nhiều trường hợp thì bởi nhiều lý do, các bên vi phạm những nghĩa vụ hợp đồng của mình, dẫn đến nguy cơ, thiệt hại cho đối tác.
Vì vậy, chế tài thương mại ra đời như là phương pháp phòng ngừa hay tạo niềm tin để các bên có thể tham gia vào quan hệ thương mại với ít sự lo lắng nhất có thể, bởi khi có sự vi phạm hợp đồng thì các chế tài có thể được áp dụng để đảm bảo hợp đồng được thực hiện trên thực tế, khôi phục và bù đắp thiệt hại cho bên bị vi phạm hay chấm dứt hoặc tạm chấm dứt việc thực hiện toàn bộ hoặc một phần hợp đồng. Luật thương mại Việt Nam 2005 sử dụng nhưng không định nghĩa thuật ngữ “chế tài trong thương mại”. Do đó, sau đây tác giả sẽ trình bày các khái niệm về thuật ngữ này theo nhiều nguồn khác nhau từ đó rút ra khái niệm về chế tài trong thương mại. Về thuật ngữ “chế tài”, theo từ điển pháp lý Black, chế tài là hình phạt hoặc các biện pháp thực thi khác được sử dụng để đảm bảo sự tuân thủ pháp luật hoặc 3 các quy tắc, quy định.
ỞViệt Nam, theo Từ điển Luật học, chế tài được định nghĩa là một trong ba bộ phận cấu thành một quy phạm pháp luật (bao gồm giả định, quy định, chế tài). Trong đó, chế tài là bộ phận xác định các hình thức trách nhiệm pháp lý khi có hành vi vi phạm với các quy tắc xử sự chung được ghi nhận trong phần quy định và giả 4 định của pháp luật. Trong khi đó, “thương mại” tuy không được định nghĩa trong LTM 2005 nhưng LTM 2005 có định nghĩa thuật ngữ “hoạt động thương mại” theo đó hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung 3 Black, Henry Campbell (1990), Black’s Law Dictionary, 6th ed, St. 4 Bộ Tư pháp, Viện Khoa học pháp lý (2006), Từ điển luật học, Nxb.
6 ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Mối quan hệ giữa Luật Thương mại và Luật Dân sự là mối quan hệ giữa luật chuyên ngành và luật chung. Xem xét BLDS 2005 thì không sử dụng thuật ngữ “Chế tài” mà chỉ sử dụng thuật ngữ “trách nhiệm dân sự” để gọi các biện pháp xử lý hành vi vi phạm hợp đồng. Xem xét tiếp quy định của BLDS 2015 có sử dụng thuật ngữ chế tài tại Điều 10 về giới hạn việc thực hiện quyền dân sự, theo đó trường hợp cá nhân, pháp nhân lạm dụng quyền dân sự của mình gây thiệt hại cho người khác, vi phạm nghĩa vụ của mình hoặc thực hiện mục đích khác trái pháp luật thì Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác có thể áp dụng chế tài khác do luật quy định.
Như vậy, theo BLDS thì “chế tài” là biện pháp xử lý hành vi lạm dụng quyền dân sự gây thiệt hại cho người khác hoặc hành vi vi phạm pháp luật hoặc vi phạm nghĩa vụ dân sự. Bên cạnh đó, BLDS còn sử dụng thuật ngữ “trách nhiệm dân sự” để chỉ các biện pháp xử lý hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Từ những định nghĩa nêu trên, có thể rút ra định nghĩa “chế tài trong thương mại” theo nghĩa rộng đó là những hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thể thực hiện hành vi vi phạm các quy định của pháp luật điều chỉnh các hoạt động thương mại phải gánh chịu. Như vậy, nếu hiểu theo nghĩa rộng thì chủ thể áp dụng chế tài trong thương mại có thể là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các bên trong quan hệ thương mại.
Các hành vi vi phạm có thể là các hành vi vi phạm các quy định về quản lý trong lĩnh vực thương mại như hành vi vi phạm nghĩa vụ đăng ký kinh doanh của thương nhân, vi phạm về hàng hóa, dịch vụ kinh doanh,…(Điều 320 LTM 2005). Ở phạm vi nghiên cứu của đề tài thì “chế tài trong thương mại” được hiểu theo nghĩa hẹp, có thể hiểu đồng nhất với khái niệm chế tài đối với vi phạm hợp đồng thương mại, đó là những hậu quả pháp lý bất lợi mà chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hợp đồng thương mại phải gánh chịu. Chủ thể áp dụng chế tài trong thương mại ở đây là các bên trong hợp đồng mà cụ thể là bên bị vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và hành vi vi phạm ở đây là các hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng như vi phạm nghĩa vụ giao hàng (Điều 34 LTM 2005), nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng (Điều 50 LTM 2005), nghĩa vụ nhận hàng (Điều 56 LTM 2005),… 1. Khái niệm chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng Điều 385 BLDS 2015 quy định: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Khoản 1 Điều 275 BLDS quy định một trong các căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ là hợp đồng. Mặt khác, có thể hiểu rằng hợp đồng thương mại là một dạng cụ thể của hợp đồng dân sự. Như 7 vậy, hợp đồng thương mại là một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ hợp đồng thương mại. Đây là sự cam kết của các bên khi tham gia vào quan hệ thương mại với bên đối tác, theo đó khi tham gia vào quan hệ thương mại thì các bên phải tuân thủ các cam kết của mình.
Bởi lẽ, khi tham gia giao kết hợp đồng thương mại thì mục đích của các bên là đạt được lợi ích từ việc hợp đồng được thực hiện, bên bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thì được thanh toán từ hàng hóa, dịch vụ mà họ cung cấp, bên mua hàng hóa, nhận cung ứng dịch vụ thì có được hàng hóa, được thực hiện công việc. Và như vậy, chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng ra đời như là một hệ quả tất yếu của nguyên 5 tắc Pacta sunt Servanda – nguyên tắc giao ước cần được tuân thủ. Theo đó, ở góc độ lý luận thì “buộc thực hiện đúng hợp đồng” là việc buộc bên vi phạm nghĩa vụ, cam kết trong hợp đồng phải thực hiện các hành vi để hợp đồng được diễn ra đúng như cam kết, mong muốn của các bên - được thể hiện trong hợp đồng. Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là một trong các chế tài trong thương mại 6 được liệt kê ở Điều 292 LTM 2005.
Pháp luật thương mại Việt Nam đưa ra định nghĩa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng như sau: “Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp 7 khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh”. Như vậy, theo định nghĩa này thì ta có thể rút ra các vấn đề chủ yếu như sau: Thứ nhất, chủ thể áp dụng chế tài này là “bên bị vi phạm”, chủ thể bị áp dụng chế tài là “bên vi phạm”. Thứ hai, hình thức thực hiện chế tài bao gồm hai hình thức là “yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng” và “sử dụng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện”, bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh. Đặc điểm chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là một chế tài trong thương mại, do đó nó có các đặc điểm chung của chế tài trong thương mại và đồng thời cũng có những đặc điểm riêng của mình.
5 Đặng Hoa Trang (2014), Chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng theo Công ước Viên 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và pháp luật thương mại Việt Nam, luận văn Ths Luật học, Đại học Luật TP HCM, tr.16 6 Các chế tài được quy định tại Điều 292 LTM 2005 bao gồm: (1) Buộc thực hiện đúng hợp đồng, (2) Phạt vi phạm, (3) Buộc bồi thường thiệt hại, (4) Tạm ngừng thực hiện hợp đồng, (5) Đình chỉ thực hiện hợp đồng, (6) Huỷ bỏ hợp đồng và (7) Các biện pháp khác do các bên thoả thuận không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế. 7 Khoản 1 Điều 297 LTM 2005 8 Thứ nhất, chủ thể áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng là các bên của hợp đồng thương mại Đây là đặc điểm chung của các chế tài trong thương mại. Đối với chế tài BTHĐHĐ thì xuất phát từ định nghĩa của chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng tại điều 297 LTM 2005, buộc thực hiện đúng hợp đồng là bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm… Như vậy, chỉ có chủ thể của hợp đồng cụ thể là chủ thể bị vi phạm mới có quyền áp dụng chế tài này với chủ thể vi phạm hợp đồng. Bên bị vi phạm có thể áp dụng hay không áp dụng chế tài này bởi đây là quyền của họ.
Ngoài bên bị vi phạm hợp đồng là chủ thể áp dụng chế tài BTHĐHĐ thì liệu rằng Tòa án có là chủ thể áp dụng chế tài BTHĐHĐ hay không? Theo tác giả thì việc áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng của Tòa án trong trường hợp này không phải là một quyền trong hợp đồng thương mại. Bởi việc buộc bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng của Tòa án được thực hiện thông qua việc yêu cầu của bên bị vi phạm, tức là Tòa án sẽ không có quyền này nếu bên bị vi phạm không thực hiện nó. Như vậy, quyền buộc bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng của Tòa án chỉ là quyền của chủ thể mang quyền lực nhà nước đứng ra xem xét, giải quyết tranh chấp, xem xét sự hợp pháp, hợp lý đối với vi phạm và yêu cầu của các bên.