CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về cây ngô 1. Lịch sử và vai trò của cây ngô Ngô, bắp hay bẹ (danh pháp hai phần: Zea mays L.mays) là một loại cây lương thực được thuần canh tại khu vực Trung Mỹ và sau đó lan tỏa ra khắp châu Mỹ. Ngô lan tỏa ra phần còn lại của thế giới sau khi có sự giao thương với người châu Âu và châu Mỹ vào cuối thế kỷ 15, đầu thế kỉ 16 (theo Wikipedia, Nguồn gốc của Ngô).
− Có giả thuyết cho là nguồn gốc cây ngô khoảng năm 5500 tới 10000 trước công nguyên (TCN). − Những nghiên cứu về di truyền học gần đây cho rằng quá trình thuần hóa ngô diễn ra vào khoảng năm 7000 TCN tại miền trung Mexico và tổ tiên của nó là loại có teosinte hoang dại gần giống nhất với ngô, ngày nay nó vẫn còn mọc trong lưu vực sông Balsas. − Người ta cũng phát hiện các bắp ngô có sớm nhất tại hang Guila Naquitz trong trung lũng Oaxaca có niên đại vào khoảng năm 4250 TCN. − Ngô được đưa vào Châu Âu đầu tiên ở Tây Ban Nha trong chuyến thám hiểm thứ hai của Columbus vào khoảng năm 1494.
− Vào những năm đầu của thế kỉ XVI bằng đường thủy các tàu của Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Italia đã đưa cây ngô ra hầu hết các lục địa của thế giới cũ. − Năm 1517 ngô xuất hiện ở Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ, Pháp, Đức sau đó là nam Châu Âu và Bắc Phi. − Năm 1521 ngô đến Đông Ấn Độ và quần đảo Indonesia. − Vào khoảng năm 1575 ngô đã đến Trung Quốc.
3 Trong lịch sử tiến hóa của khoảng 1000 loài cây phổ biến nhất trên trái đất hiện nay, chưa có loài cây trồng nào phát triển nhanh chóng và có nhiều công dụng cho loài người như cây ngô (Cao Đắc Điểm, 1988). So với các cây trồng khác thì giá trị kinh tế mà cây ngô mang lại là khá cao và có thị trường ổn định ngoài việc đem lại nguồn lợi cho nông dân, thân ngô còn có thể sử dụng làm thức ăn cho gia súc, làm chất đốt rất tốt. Vai trò của cây ngô trong nên kinh tế: − Ngô làm lương thực cho con người: Sản phẩm của ngô đã và đang góp phần nuôi sống 1/3 dân số thế giới. Toàn thế giới sử dụng 21% sản lượng ngô làm lương thực.
Trên phạm vi toàn thế giới mà nói, ngô sẽ vẫn còn là cây lương thực rất quan trọng vì cây ngô rất phong phú về các chất dinh dưỡng (Ngô Hữu Tình, Trần Hồng Uy, 1997).1: Thành phần hóa học chính của hạt ngô (%) Thành phần hóa học Vỏ hạt Nội nhũ Mầm Protein 3,7 8 18,4 Chất béo 1 0,8 33,2 Chất xơ thô 86,7 2,7 8,8 Tro 0,8 0,3 10,5 Tinh bột 7,3 87,6 8,3 Đường 0,34 0,62 10,8 (Nguồn: FAO, 1995) − Ngô làm thức ăn chăn nuôi: Trong chăn nuôi, ngô là thức ăn quan trọng nhất. Khoảng 70% thành phần thức ăn tinh là từ ngô. Ngoài việc cung cấp chất tinh, cây ngô còn là thức ăn xanh và ủ chua lý tưởng cho đại gia súc (Ngô Hữu Tình, Trần Hồng Uy, 1997).2: Thành phần hóa học (%) của cây ngô xanh (không bắp) thân, lá và cây ủ chua Thành phần Thân Lá Cây không Cây ủ Lá bắp bắp chua xanh Độ ẩm 73,6 68,9 77,3 - 63,5 Protein thô (N x 6,25) 1,3 3,2 1,3 1,65 1,8 Lipit thô 0,4 0,7 0,4 0,84 0,4 Các chiết suất không 14,5 15,4 13,6 8,86 20,9 đạm Xenlulozo 9,1 8,6 6 5,39 11,9 Tro 1,1 3,2 1,4 1,8 1,5 (Nguồn: Shisanschi, 1957) − Ngô làm thực phẩm: Những năm gần đây, ngô được sử dụng làm thực phẩm (ngô rau, ngô nếp,…). Ngô rau là một loại rau sạch và có hàm lượng dinh dưỡng cao.
Sản xuất ngô rau phát triển mạnh, mang lại hiệu quả kinh tế cao ở Thái Lan, Đài Loan. Các loại ngô đường, ngô nếp được dùng để luộc, nướng hoặc đóng hộp (Ngô Hữu Tình, Trần Hồng Uy, 1997).3: Giá trị dinh dưỡng của ngô rau phân tích từ 100g so với cà chua và dưa chuột Thành phần Đơn vị Ngô Cà chua Dưa chuột Độ ẩm % 89,1 94,1 96,4 Chất béo g 0,2 0,2 0,2 Protein g 1,9 1 0,6 Hidrat cacbon mg 8,2 5,7 2,4 Tro g 0,06 0,6 0,4 Canxi mg 28 30 19 Photpho mg 86 27 12 Sắt mg 0,1 0,6 0,1 Vitamin IU 64 130 0 Thiamin mg 0,05 0,1 0,02 Riboflavin mg 0,08 0,05 0,02 Axit ascorbic mg 11 5 10 Niaxin mg 0,03 0,6 0,1 (Nguồn: Chamnan Chutkaew, 1986) − Ngô cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp: Ngô là nguyên liệu chính cho công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi, ngoài ra nó còn là nguyên liệu cho ngành công nghệ thực phẩm, một số ngành công nghiệp nhẹ, công nghệ y dược, sản xuất xăng sinh học,… ngoài ra ngô non còn được dùng để tinh chế vitamin (Ngô Hữu Tình, Trần Hồng Uy, 1997). − Ngô là nguồn hàng hóa xuất khẩu: Hàng năm lượng ngô mua bán trên thị trường quốc tế khoảng 70 triệu tấn, mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho các nước có sản lượng ngô lớn (Ngô Hữu Tình, Trần Hồng Uy, 1997). Thực trạng sản xuất ngô trên thế giới Xu hướng phát triển cây ngô trên thế giới có những thay đổi đáng chú ý, năm 2021, diện tích là 140,20 triệu ha, năng suất trung bình 4,3 tấn/ha và tổng sản lượng 600 triệu tấn.
Năm 2010, tương ứng đạt 155,93 triệu ha, 5,35 tấn/ha, và 835 triệu tấn, các nước đang phát triển đã đóng góp vào đó khoảng 383,6 triệu tấn (45,9%) (FAO, 2012). Ngoài ra trên thế giới Mỹ cũng là một trong những nhà sản xuất và xuất khẩu ngô lớn nhất thế giới, với sản lượng trong niên vụ 2019-2020 được thống kê ở mức 346 triệu tấn. Diện tích danh riêng để trồng ngô thay đổi theo mùa, 32,4 triệu ha của đất Mỹ dùng để trồng ngô mỗi mùa. Tiêu thụ nội địa của Mỹ chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng số và khoảng một nửa trong số đó được sử dugnj làm thức ăn chăn nuôi cho gia súc (Các Quốc gia sản xuất Ngô lớn nhất thế giới, 2021).
Ở Trung Quốc sản lượng ngô vụ mùa hiện tại ước tính 260,8 triệu tấn và hầu như chỉ được tiêu thụ trong nước. Trong khi quốc gia này là nước sản xuất ngô lớn, số mẫu Anh mà nông dân Trung Quốc dành cho ngô có thể sẽ giảm ngay khi chính phủ có giá ngô trong nước đã hết hỗ trợ. Nông dân Trung Quốc có thể được mong đợi sẽ chuyển sang cây trồng có giá trị cao hơn như đậu trương. Nếu nhu cầu ngô vẫn cao trong khi nguồn cung giảm, Trung Quốc có thể tăng lượng ngô nhập khẩu (Các Quốc gia sản xuất Ngô lớn nhất thế giới, 2021).
Brazil là nhà sản xuất chính của nhiều loại cây trồng bao gồm cà phê, đường và đậu nành, ngoài ra Brazil cũng là nước sản nước ngô lớn thứ ba thế giới. Trong số 102 triệu tấn ngô ước tính mà đất nước này sản xuất hàng năm, phần lớn được tiêu thụ trong nước. Vào năm 2022, Brazil có thể sẽ xuất khẩu 38-40 triệu tấn ngô và chủ yếu tăng mạnh kể từ quý 2 trở đi. Điều kiện thời tiết khô hạn ở miền nam Brazil đang giữ cho giá ngô trong nước ở mức cao trong nhiều năm qua, điều này giúp cho hoạt động bán hàng nội địa trở nên 7 hấp dẫn hơn.
Kết hợp với việc chi phí hàng hải cũng tăng mạnh, nguồn cung ngô xuất khẩu của Brazil có thể sẽ không đạt được mức kỳ vọng đặt ra từ đầu niên vụ (Sở giao dịch hàng hóa Việt Nam, 2021). Trong khi đó theo Sở giao dịch ngũ cốc Buenos Aries (BAGE), tiến độ trồng ngô Argentina đang ở mức 70% diện tích dự kiến, chậm hơn so với mức 75% trong năm ngoái và mức 80% trung bình 3 năm trước. Tại những khu vực sản xuất chính, tiến độ gieo trồng đã đạt 98% diện tích dự kiến, trong đó 60-70% ngô được gieo trồng tại phía Nam và 5-10% tại phía Bắc. Nhìn chung, tốc độ gieo trồng ngô tại Argentina đã được cải thiện trong những tuần gần đây, nhưng vẫn thấp hơn so với trung bình 5 năm gần nhất.
Tình trạng thiếu mưa kéo dài từ cuối tháng 10 cũng khiến cho diện tích ngô được đánh giá tốt cũng giảm mạnh xuống mức 58% từ mức 76% trong báo cáo trước đó tỉ lệ gieo trông ngô vụ 1 đạt 65%, trong khi con số này của ngô vụ 2 là 56%.1: Sản lượng ngô hàng năm của Argentina (Nguồn: Sở giao dịch hàng hóa Việt Nam, 2021) 1. Thực trạng sản xuất ngô ở Việt Nam Ngô là loại cây nông nghiệp có diện tích lớn thứ 2 tại Việt Nam sau lúa gạo. Trước kia, tại Việt Nam cây ngô chỉ được trồng ở những vùng đất khô 8 hạn, thiếu nước tưới tiêu hoặc trồng xen canh với những cây trồng có giá trị cao khác, do vậy mà cây ngô của nước ta thường không đạt được năng suất cao. Tuy nhiên, trong những năm gần đây để giảm lượng ngô nhập khẩu nước ta đã chú trọng tới việc tăng diện tích, đưa giống ngô lai vào trồng dẫn đến sản lượng ngô tại nước ta không ngừng tăng.
Theo Bộ NN-PTNT, sản lượng ngô của Việt Nam năm trong niên vụ 2016/2017 đạt 5,1 triệu tấn, so với niên vụ năm 2015/2016 thấp hơn 130 nghìn tấn do sự thay đổi thời tiết tại niềm Bắc đã dẫn đến việc diện tích thu hoạch ngô bị thu hẹp. Từ niên vụ năm 2016/2017, diện tích thu hoạch ngô tăng lên từ 1.100 nghìn ha lên 1.320 nghìn ha do chính sách mới của chính phủ trong việc tăng diện tích trồng ngô từ việc chuyển đổi diện tích trồng lúa kém hiệu quả. Năng suất ngô trung bình tăng nhẹ do sử dụng các giống ngô lai tạo mới. Trong niên vụ năm 2019/2020, sản lượng ngô tăng 340 nghìn tấn so với năng suất niên vụ trước đó.
Sản lượng ngô của Việt Nam, qua các niên vụ được thể hiện qua bảng 1.4: Sản lượng ngô của Việt Nam trong niên vụ 2015 – 2020 Niên vụ Niên vụ Niên vụ Niên vụ Niên vụ 2015/16 2016/17 2017/18 2018/19 2019/20 Diện tích thu 1.265 hoạch (nghìn ha) Năng suất 4,55 4,64 4,66 4,71 4,72 (tấn/ha) Sản lượng (nghìn 5.300 tấn) (Nguồn: Bộ NN-PTNT, 2020) Diện tích thu hoạch ngô tại nước ta liên tục tăng qua các năm để đáp ứng nhu cầu tăng lên nhanh chóng của thị trường trong ngành công nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi. Từ năm 2016 đến năm 2020, diện tích thu hoạch 9 ngô của cả nước tăng 89 nghìn ha (tăng từ 1. Đây có lẽ là sự thay đổi mang tính chất bước ngoặt của cây ngô Việt Nam nhờ vào những chính sách hoàn toàn mới của chính phủ.8 chỉ rõ diện tích trồng ngô quy hoạch theo vị trí địa lý.