Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ TRONG HỆ THỐNG CÁC CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM XÃ HỘI 1. Khái niệm chế độ hưu trí 1. Định nghĩa chế độ hưu trí Chế độ hưu trí là chế độ mà NLĐ sẽ trích một phần thu nhập khi đang làm việc để đóng vào quỹ hưu trí, để khi già yếu và được về nghỉ hưu thì quỹ này sẽ được dùng để chi trả một phần cuộc sống của họ cho đến khi chết. Mỗi chúng ta đều phải tuân theo quy luật của cuộc sống, có nghĩa là ai cũng đến lúc già yếu không còn khả năng lao động nữa, nếu không có chế độ hưu trí thì những người này sẽ trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội.
Theo nghĩa chung nhất: "Chế độ hưu trí là chế độ BHXH đảm bảo thu nhập cho người hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia quan hệ lao động nữa" (Bài giảng BHXH 2, NXB Lao động - Xã hội). Dưới góc độ pháp luật: "Chế độ hưu trí là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định về các điều kiện và mức trợ cấp cho những người tham gia BHXH, khi đã hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia quan hệ lao động" (Bài giảng BHXH 2, NXB Lao động - Xã hội). Theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012 thì chế độ hưu trí được hiểu là “Chế độ BHXH đảm bảo thu nhập cho NLĐ đã hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật” [19]. Vai trò của chế độ hưu trí Trong hệ thống các chế độ BHXH gồm nhiều chế độ khác nhau (chế độ ốm đau, chế độ thai sản, chế độ tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí và tử tuất…).
Tuy nhiên, các chế độ BHXH được xây dựng và thực hiện phụ thuộc vào trình độ phát triển và mục tiêu cụ thể của hệ thống BHXH trong từng thời kỳ của mỗi nước. Và trong bất cứ hệ thống BHXH nào cũng có những chế độ chính thể hiện đặc trưng, những mục tiêu chủ yếu của hệ thống BHXH; một trong những chế độ đó là chế độ hưu trí hay chế độ bảo hiểm tuổi già cho NLĐ. 7 Theo quy định của ILO (International Labour Organization - Tổ chức Lao động Quốc tế) thì chế độ hưu trí là một trong những chế độ bắt buộc, là chế độ chính sách khi mỗi quốc gia muốn xây dựng cho mình một hệ thống BHXH. Theo thống kê của ILO, trong tổng số 163 nước trên thế giới có hệ thống BHXH (1993) thì có tới 155 nước có thực hiện chế độ hưu trí chiếm tỷ lệ 95,1%.
Điều đó chứng tỏ chế độ hưu trí rất được các nước cũng như NLĐ quan tâm. Trên thực tế, những người tham gia BHXH đều có mong muốn tham gia vào chế độ hưu trí; trong phần đóng góp phí BHXH nói chung thì phần chủ yếu là đóng cho chế độ này. Đối với hệ thống BHXH thì hoạt động của ngành này tập trung chủ yếu vào chế độ hưu trí cho NLĐ. Điều này được thể hiện cụ thể trong các hoạt động nghiệp vụ của BHXH.
Chẳng hạn ở Việt Nam, chế độ hưu trí có vị trí đặc biệt quan trọng với người tham gia BHXH; chế độ này được quy định và đưa vào thực hiện ngay từ khi hệ thống BHXH mới được thành lập (1947). Theo các quy định hiện hành thì tỷ lệ cho bảo hiểm hưu trí và các chế độ khác có liên quan tới người về hưu là 86% (phí bảo hiểm là 25,5% tổng quỹ tiền lương thì tới 22% đóng cho hưu trí). Do đó thu cho chế độ hưu trí chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng thu của BHXH, khoảng trên 80%. Tương tự, trong tổng chi của BHXH thì việc chi cho chế độ này cũng rất lớn.
Trong những năm gần đây tiền chi cho chế độ hưu trí chiếm khoảng trên 80% tổng chi cho BHXH. Như vậy, hoạt động thu - chi của chế độ hưu trí có ảnh hưởng sống còn tới toàn bộ hoạt động của hệ thống BHXH, ảnh hưởng đến sự ổn định của BHXH nói riêng cũng như cả xã hội nói chung. Một vấn đề nữa đặt ra là xu hướng già hóa của dân số thế giới dẫn đến số lượng người nghỉ hưu ngày càng tăng. Điều đó cho thấy rõ vai trò ngày càng quan trọng của chế độ hưu trí trong đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.
Chế độ bảo hiểm hưu trí còn thể hiện được sự quan tâm chăm sóc của Nhà nước, NSDLĐ đối với NLĐ, và nó còn thể hiện đạo lý của dân tộc, đồng thời còn phản ánh trình độ văn minh của một chế độ xã hội. Sự cần thiết phải có bảo hiểm hưu trí Bảo hiểm hưu trí đảm bảo đời sống cho NLĐ khi họ về hưu do đó giúp xã 8 hội ổn định bền vững. Ngày nay, tỷ lệ người già trong dân số ngày càng tăng, nên ổn định đời sống cho bộ phận này là rất quan trọng. Mặt khác, khi nghỉ hưu NLĐ có cuộc sống ổn định và an nhàn hơn.
Đối với người có trình độ, có khả năng họ lại tiếp tục cống hiến, truyền đạt kinh nghiệm cho thế hệ sau. NLĐ trong quá trình lao động họ có được sự bảo đảm chắc chắn về phần thu nhập khi họ nghỉ hưu, làm cho họ yên tâm công tác, không lo nghĩ về điều kiện sống khi nghỉ hưu, do đó làm việc với năng suất và chất lượng cao hơn. Giúp NLĐ tiết kiệm cho bản thân mình ngay trong quá trình lao động để bảo đảm cuộc sống khi về hưu, giảm bớt một phần gánh nặng cho người thân, gia đình và xã hội. Cơ sở hình thành chế độ bảo hiểm hưu trí trong hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội 1.
Quá trình hình thành và phát triển của Bảo hiểm xã hội trên thế giới BHXH đã hình thành một cách khách quan, do nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của NLĐ và người chủ sử dụng lao động. Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, một số nghiệp đoàn thợ thủ công ra đời để bảo vệ nhau trong hoạt động nghề nghiệp và họ đã thành lập nên các quỹ tương trợ (như ở Anh năm 1473 đã thành lập hội “Bằng hữu”) nhằm giúp đỡ các hội viên khi bị ốm đau, tai nạn… Đến năm 1883, Đức cũng đã ban hành Luật Bảo hiểm ốm đau đầu tiên trên thế giới, sau đó tiếp tục ban hành Luật Bảo hiểm tai nạn lao động và Luật Bảo hiểm người già - người tàn tật do lao động vào năm 1884 và 1889. Sau đó, một số nước ở Châu Âu, Bắc Mỹ tiếp tục đưa ra luật BHXH vào cuối năm 1920. Sự ra đời các bộ luật chính thức đầu tiên đó phản ánh một yêu cầu tất yếu khách quan của BHXH.
Qua thời gian thực hiện và tiếp tục hoàn thiện các chế độ bảo hiểm chúng ta có thể hiểu được bản chất BHXH: “BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với NLĐ khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho NLĐ và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội”. Nguyên tắc chung trong hoạt động bảo hiểm này là gắn liền quyền lợi được hưởng với nghĩa vụ đóng góp. Tuy vậy, BHXH 9 chỉ thực sự trở thành một lĩnh vực hoạt động mang tính chất và ý nghĩa xã hội sâu sắc từ đầu thế kỷ XIX. Quá trình đó gắn liền với sự phát triển sản xuất công nghiệp, của nền kinh tế thị trường và thị trường sức lao động mà trong đó có quan hệ chủ thợ trong lao động trở nên phổ biến.
Sang thế kỷ XX, hầu hết các nước trên thế giới mà trước hết là các nước công nghiệp phát triển đều ban hành và thực hiện điều luật về BHXH đối với NLĐ. Đặc biệt vào tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ, ILO thông qua Công ước số 102 với những quy phạm tối thiểu về BHXH, trong đó có quy định hệ thống gồm 9 chế độ đó là: chăm sóc y tế, trợ cấp ốm đau, trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tuổi già, trợ cấp tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, trợ cấp gia đình, trợ cấp sinh đẻ, trợ cấp khi tàn phế, trợ cấp cho người còn sống; 9 chế độ này hình thành nên một hệ thống các chế độ BHXH. Với sự phát triển như vậy, BHXH đã trở thành một lĩnh vực mang tính quốc tế rộng lớn và hiện nay có hơn 170 quốc gia trên thế giới thực hiện BHXH (theo ILO-2017). Bảo hiểm hưu trí trong chế độ bảo hiểm xã hội Trong quá trình NLĐ tạo ra của cải vật chất để đáp ứng nhu cầu của bản thân, nhưng cùng với thời gian tuổi tác, sức khỏe của họ bị giảm sút và đến một lúc nào đó họ sẽ không còn khả năng lao động.
Lúc đó khoản thu nhập mà họ có thể sinh sống hoặc là do tích góp trong quá trình lao động hoặc do con cháu nuôi dưỡng. Những nguồn thu nhập này không thường xuyên và phụ thuộc vào điều kiện của từng người. Để đảm bảo lợi ích cho NLĐ khi họ hết tuổi lao động và giúp họ có nguồn thu nhập thường xuyên, ổn định, Nhà nước đã thực hiện chế độ BHXH hưu trí. Vậy, bảo hiểm hưu trí là hình thức bảo đảm thu nhập cho NLĐ khi hết tuổi lao động, NLĐ tạo ra thu nhập để nuôi sống chính họ trong quá trình lao động.
Quá trình này diễn ra ngay trong các nhà máy, xí nghiệp, đơn vị kinh tế, hành chính sự nghiệp trong lĩnh vực quốc doanh và ngoài quốc doanh. Trong quá trình đó, họ cống hiến sức lao động để xây dựng đất nước bằng cách tạo ra thu nhập cho xã hội và cho cả chính họ nữa. Do đó đến khi họ không còn khả năng lao động nữa thì họ phải được sự quan tâm ngược lại từ phía xã hội. Đó chính là khoản tiền trợ cấp hưu trí hằng tháng phù hợp với số tiền BHXH mà họ đã đóng góp trong suốt quá trình lao 10 động.
Nguồn trợ cấp này tuy ít hơn so với lúc đang làm việc nhưng nó rất quan trọng và cần thiết giúp cho người về hưu ổn định về mặt vật chất cũng như tinh thần trong cuộc sống, tạo cho họ có thêm điều kiện để cống hiến cho xã hội những kinh nghiệm quý báu trong quá trình lao động sản xuất mà họ đã tích luỹ được nhằm xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh hơn.