Kỷ yếu hội thảo khoa học về chế độ công vụ ở Việt Nam trong tiến trình lịch sử

Kỷ yếu hội thảo khoa học cấp khoa phân tích chế độ công vụ Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử, đóng góp giá trị nghiên cứu sâu sắc.

Chuyên ngành

Luật hành chính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

kỷ yếu hội thảo khoa học

2014

151
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỤC LỤC BÀI VIẾT

1. CHƯƠNG 1: CÔNG VỤ, NHIỆM VỤ CỦA CÁN BỘ, CÔNG CHỨC - TỪ GÓC ĐỘ PHÁP LÍ

1.1. Khái niệm công vụ và chế độ trách nhiệm công vụ

1.2. Chế độ trách nhiệm công vụ thời Lê và những giá trị lịch sử pháp lý

1.3. Trách nhiệm vật chất của quan lại thời Nguyễn

1.4. Vấn đề về chế độ công vụ theo Quốc triều hình luật và những gợi mở cho chế độ công vụ hiện nay

1.5. Khái niệm công chức trong pháp luật Việt Nam từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến nay

1.6. Trách nhiệm công vụ của một số nước - Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Tóm tắt

I. Chế độ công vụ ở Việt Nam

Chế độ công vụViệt Nam được xác định là hệ thống các quy định pháp lý liên quan đến hoạt động của cán bộ, công chức nhằm phục vụ lợi ích của nhà nước và xã hội. Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008, hoạt động công vụ bao gồm việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của pháp luật. Công vụ không chỉ là những hoạt động mang tính quyền lực mà còn bao gồm các hoạt động tổ chức, chỉ đạo, điều hành hỗ trợ quá trình sản xuất và cung ứng dịch vụ công.

1.1. Khái niệm công vụ

Công vụ được hiểu là những việc làm vì lợi ích chung của cộng đồng, xã hội, được pháp luật xác định và thực hiện bởi cán bộ, công chức. Khác với các hoạt động khác, công vụ mang tính chất quyền lực và được thực hiện bởi các chủ thể có thẩm quyền. Theo TS. Trần Thị Hiền, công vụ cần được định nghĩa rõ ràng để đảm bảo tính công bằng và thống nhất trong việc áp dụng pháp luật.

1.2. Phân biệt công vụ và nhiệm vụ

Nhiệm vụ là những việc làm cụ thể nhằm thực hiện công vụ, được giao cho cán bộ, công chức hoặc những người có đủ điều kiện. Trong khi công vụ mang tính chất quyền lực, nhiệm vụ là các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ cụ thể. Sự phân biệt này giúp xác định rõ trách nhiệm và quyền hạn của từng cá nhân trong hệ thống hành chính công.

II. Kỷ yếu hội thảo khoa học cấp khoa

Kỷ yếu hội thảo khoa học cấp khoa là tài liệu tổng hợp các bài nghiên cứu, tham luận được trình bày tại hội thảo chuyên ngành. Trong kỷ yếu này, các vấn đề liên quan đến chế độ công vụ, quản lý công vụ, và cải cách hành chính được phân tích sâu sắc. Các bài viết đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hoàn thiện pháp luật về công vụ để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.

2.1. Nội dung chính của kỷ yếu

Kỷ yếu tập trung vào các chủ đề như quản lý công vụ, hành chính công, và chính sách công. Các bài viết đưa ra nhiều kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, đặc biệt là các quy định về công chứccán bộ. Một số bài viết cũng đề cập đến vấn đề cải cách hành chính và tác động của nó đến hiệu quả quản lý nhà nước.

2.2. Giá trị thực tiễn của kỷ yếu

Kỷ yếu không chỉ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu mà còn có giá trị thực tiễn cao. Các kiến nghị được đưa ra trong kỷ yếu có thể áp dụng vào thực tế để cải thiện hiệu quả của hệ thống công vụquản lý nhà nước. Đặc biệt, các bài viết về cải cách hành chính đã góp phần thúc đẩy quá trình hiện đại hóa nền hành chính công.

III. Quản lý công vụ và hành chính công

Quản lý công vụ là một phần quan trọng của hành chính công, đòi hỏi sự tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc pháp luật. Theo Luật Cán bộ, công chức, cán bộ, công chức phải thực hiện công vụ một cách trung thực, tận tụy và tuân thủ mệnh lệnh của cấp trên. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, công chức có thể độc lập thực hiện công vụ mà không bị ràng buộc bởi mệnh lệnh.

3.1. Nguyên tắc quản lý công vụ

Nguyên tắc cơ bản của quản lý công vụ là tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Cán bộ, công chức phải thực hiện công vụ một cách công khai, minh bạch và chịu trách nhiệm cá nhân trước pháp luật. Điều này đảm bảo tính công bằng và hiệu quả trong hoạt động hành chính nhà nước.

3.2. Thách thức trong quản lý công vụ

Một trong những thách thức lớn trong quản lý công vụ là sự thiếu đồng đều về trình độ và năng lực của cán bộ, công chức. Điều này dẫn đến hiệu quả hoạt động không cao và khó khăn trong việc quy trách nhiệm. Cần có các biện pháp cải thiện chất lượng đội ngũ công chức để nâng cao hiệu quả quản lý.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề “Chế độ công vụ ở nước ta là một nội dung rất quan trong của quản lý nhà nước nói chung, quản lý hình chính nhà nước nói riêng, đã được quan tâm từ shững ngày đầu thành lập nhà nước VNDCCH nhưng cho đến nay, nước ta vẫn chưa có một đạo luật nào đỀ cập đến ché độ công vụ một cách toàn diện, đó là một điều đáng tiếc. Do đó, một định nghĩa hay một khái niệm đầy đủ vỀ công vụ là một đồi hỏi rất cần tiết, tạo cơ sở cho việc xây dựng một cách thống nhất các chế định và các quy định kháe phá sinh từ khái niệm công vụ. Luft cán bộ, công chức hiện hành tuy cũng đã đề cập đến nhiều khái niệm, căng như nội dung liên quan đến chế độ công vụ như khái niệm CB, CC, về hoạt động công vụ, nguyên ắc th hinh công vụ, đạo đức công vụ. nhưng vin đề miu chốt là khái niệm công vụ thi lại không có.

DiỄu này lý giải về sự nhất quán và e giữa công vụ và công chức là rất khó khăn, cũng vì lý do nêu trên mà các quy định về hành vi thí hành công vụ cũng rất mo hd, việc xác định hành vi chống người th hành công vy rất tùy tiệ, phụ thuộc rất nhiều vào tâm lý và thi độ chủ quan của cáo nhà chức trách. độ công vụ là gì? `Vậy chế Có rất nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này. Tée giả xin đề cập đến 1 ý kiến chế độ công vụ là một thuật ngữ ghép bao gồm "chế độ" và " ông vụ" "Chế độ là hệ thống các quy định pháp luật cần phải được tuân thủ trong, một QHXH nhất định nhằm đạt được mục dich nhất định. Chẳng hạn như chế độ furu trí." '2, Nh vậy, muốn xây đựng chế độ công vy, trước hết chúng ta phải PL từ những văn bản pháp luật đơn lẻ đến việc pháp dién hóa để chú ý xây đụng só một đạo luật hay bộ luật Có như vậy chúng ta mới có co sở pháp lý vũng chắc cho việc thự th hoạt động công vụ.

Một hệ thống pháp lut cảng ít phic tạp thì sẽ tạo ra một chế độ công vụ da dang, mới phát huy sức sáng tạo của địa phương. ` Tư aid ae học nb Tờ đền Bich Khoa Hà Nội 2006. Trang 122 16 “Công vụ là một khế niệm được tinh biy dưới nhiều góc độ khée nhan. Có quan niệm cho ring "Công vụ là hoạt động của các cơ quan Nhà nước, đem lại quyền lợi chúng cho mọi người.

Hoạt động này gắn liễn trực iếp với công chức. Vi thé công vụ bao gồm toàn bộ những người được nhà nước hoặc cộng đồng lãnh thổ bộ nhiệm vào một ngạch để thực hign công việc thường xuyên trong một công sở hay một thực th công x" ®. ¥ kiến khác lại cho rằng: "công vụ là một khái niệm phức tạp, không thé định nghĩa, nên nó chứa đựng những nội dung sau: - Công vụ là hoạt động của ác tổ chức, cơ quan Nhà nước nhằm thực hiện Ý chí của nhân dn; = Công vụ là quy chế, nguyên the hoạt động của các cơ quan nhà nước hầm thực hiện các chức nãng quân lý xã hội theo mục tiêu đã vạch ra = Công vụ là hoạt động thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; - Công vụ bao gồm toàn bộ các hoạt động mang tinh quyền lực công, tinh pháp lý của công chức `4. Néu xé theo gốc độ các yếu tổ (dấu hiệu) cầu thành, để phân biệt với các "hoạt động mang tính xã hội thì công vụ bao gồm: ~ Hoạt động theo sự chỉ đạo của Nhà nước thông qua pháp luật, ~ Do đội ngũ CB, CC, VC làm công cho Nhà nước thực hiện; ~ Sử đụng quyền lực công khi tiến hành; ~ Mang tinh pháp lý; - Phục vụ lợi ch chung: Do Nhà nước trả công (ương, phụ cấp) '* “Theo Từ dién Luật học thì, Công vụ là công việc mang tính Nhà nước, vì Joi ich sẽ hội, lợi ich Nhà nước, li ích chính đồng của công đân, có tính chuyên nghiệp, chủ yếu do CB, CC nhà nước thực hiện “Công vụ mang tính tổ chức và tuân thủ những quy chế bắt buộc, theo trật tạ có tính thứ bộc chặt chế, chính quy và liên tye, được bảo đảm bằng quyền lực ‘Nha nước '* id wink ginhn chính Xà nước, NXB Kos hoe vA thu Hà NG 2009, rang 121, 122 so tình qun lý ảnh chính Nhà nước, NXB khen hoe và} th Hà Nội 2009, rang 121,122 ' Giáp nh qin lý hình chính Nhà nước, NXB Khoa học v8 kỹ tht Hà Nội 2009, trang 121,122, "ST dn lột ge.

ang 10 ” [mi ars tí [TRUONG ĐẠIHỌC LUA PHONG 906. A “Công vụ với những nội dung như trên rõ rang là một khái niệm rất rộng.đó chúng ta rét cần phân biệt nó với nền công vụ. Nếu công vụ ding để chỉ các "hoạt động cụ thể thực thi quyền lực quản lý hành chính Nhà nước, thi nền công vụ vừa chứa đựng công vụ, vừa chứa đựng các các điều kiện để tiến hành công vụ hư hệ thắng pháp luật quy định các boạt động thực thi công vụ; hệ thống các quy định, quy te, quy chế xác định cách thức tiền hành, thi tục tiến hình công vụ; các, quy định xác định chủ thể tiến hành công vụ; công sở là nơi tổ chức tiến hành công vụ và công dân, tổ chức là đối tượng của nền công vụ phục vụ. "Tóm lại công vụ là hoạt động thường xuyên của Nhà nước trên cơ sở pháp luật nhằm phục vụ lợi ích chung của xã hội, của cộng đồng, không vì lợi nhuận, tổ chức cao, bình đẳng và không có mục đích riêng của.

Hoạt động này mang tính mình, được tiến hành thường xuyên bởi đội ngũ CB, CC chuyên nghiệp và chịu sy giảm sit của nhân dân. 'Vớiý nghĩa đó, hoạt động công vụ cần phái được tiến hành theo những quy. - đó là những nguyên th, nhất định. định mang tinh chuin myo 2.

Nguyên tắc thực thi công vụ theo quy định của luật CB, CC hiện hành a. Nguyên tắc tuân thủ Hiễn pháp và pháp luật. "Nguyên tắc này vừa nhất trí, vừa cụ thể hóa nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và được ghi nhận tại điều 8 của Hiển pháp 2013, theo đó Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiển pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiển pháp và pháp luật; tit cả cán bộ, công chức thi hành công vụ, tức là thực thi nhiệm vụ, “quyền hạn của mình đều đựa trên cơ sở của Hiển pháp và pháp luật Nguyên tắc này khẳng định nguyên tắc tối cao của Nhà nước phiip quyền, theo đó, trước hết những người thi hành công vụ phải nghiên cứu thật tốt để hiểu những qui định của Hiển pháp, pháp luậ xác định rõ yêu cầu, phạm vi mà Hiến pháp và pháp luật biện hành đã giới hạn cho hoạt động công vụ; âm rõ những qui định về quyền, nghĩa vụ cũng như mục đích của công dân, của cán bộ, CC, VC khi giám sắt, kiểm tr, tham gia hey thi hành công vụ; tuân thủ những yêu cầu, nguyên tắc, thắm quyển, thời hiệu, thời hạn cũng như những thủ tục hành chính mà Hiến pháp và pháp luật đã quy định về công vụ. Nói cách khác, khi thi hành công vụ, các CB, CC, VC phải hoạt động trong khuôn khổ của Hiển pháp và pháp luật.

biệt đội ngũ công chức - lực lượng chủ yếu thực thi công vụ có nghĩa vụ phải dành 18 toàn bộ thoi gian cho hoạt động công vụ, họ Không chỉ có bổn phận tuân thù nghiêm ngặt những nghĩa vụ mà pháp luật đã qui định cho bọ phải làm '” mà còn phải tuân thd những qui định về những việc cán bộ công chức không được làm ", “Tuân thủ Hiển pháp và phép luật không được hiểu một cách máy móc và cứng nhắc mà người thi hành công vụ phải có hành vi xử sự bợp lý, hợp tình, bảo vệ pháp luật và bảo vệ quyển, lợi ich hợp pháp của tổ chức và cá nhân trong xã bội. 1 Nguyên tắc bảo vệ lợi ich cũa Nhà nước, quyén, lợi ích hợp pháp của 1Ä chức, công din. 'Nguyên tắc này nhắn mạnh và khẳng định, công vụ phải lẤ lợi ích của nhân dân, lợi ich của cộng đồng làm mục tiêu hoạt động. Hoạt động công vụ là hoạt động vì lợi ich chung, luôn hướng tới lợi ich chung, do đó hoạt động công vụ không có mục tiêu nào khác là bảo vệlợi Ích Nhà tước, lợi ich tổ chức và cá nhân, trong đồ lợi ích của nhân dân vừa là mục tiêu hing đầu, vừa làmục iu lâu đài tạo nên sự én vững của xã hội, cũng cổ lòng tin của nhân dân đối với chính quyền, Bao vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức và cá nhân là điều kiện quyết định sự bn định cia xã hội, day tì an ninh, an toàn và trật tự xã hội.

Chính vì vậy, một xã hội ôn định v8 chính rj có vai trồrất quan trọng và to lớn của công vy, của hoạt động công vụ và việc xác định rõ rằng, đầy đủ và chính xác mục tiêu của công vụ. Nguyen tắc công khai, mink bạch, đẳng thẫm quyên và có sự kiểm tra giám sit Nha nước pháp quyền đã chi rõ nguyên tắc, "CB, CC chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép”. Diu đồ cũng có nghĩa là cần bộ, công chức, viên chức thực thi công vụ phải phi hợp với phép lut, chính sách hiện hành và đạo đức xã hội. Quyền và nghĩa vụ của CB, CC phải được công khai trong văn bản pháp luật, nhất là các nghĩa vụ, ví dụ như nghĩa vụ công khai ti sản, công khai chu nhập để nhân dân giám sét, Những thông tin đầy đủ cho mọi người dân biết làm cho tinh công khai được ning cao, bảo dim thu hút sự tham gia ngày cing tăng của tt cả mọi người vào qué tinh ra các QĐHC và thực biện nhiệm vụ, công vụ.

Vì vậy, T Điệu 9 Luật CB, CC2008 'Y Điệu 18 Lute CB, CC 2008 19 CB, CC thực thi công vụ luôn chịu sự kiểm tra giám sát của nhân dân, họ có thể bị thay thé, bị bi miễn khi không đủ năng lực, khử VPPL. “Theo nguyên tắc này, béy lâu nay nhân dân ta hường thực hiện quyền giám sắt gián tiếp (thông qua QH, đại biểu QH, HĐND và đại biểu HĐND) mà khó có. vụ của CB, CC. cơ hội và điều kiện để nhân dân giám sát trực tiếp hoạt động công Vi lý do này ma luật giám sát cần sớm được xây dựng và hoàn thiện để mọi công.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

"Chế độ công vụ ở Việt Nam: Kỷ yếu hội thảo khoa học cấp khoa" là một tài liệu chuyên sâu phân tích về hệ thống công vụ tại Việt Nam, tập trung vào các vấn đề như cơ chế quản lý, quy trình tuyển dụng, đào tạo, và đánh giá công chức. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về những thách thức và cơ hội trong việc cải cách chế độ công vụ, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Đây là nguồn tham khảo quý giá cho các nhà nghiên cứu, nhà quản lý, và những ai quan tâm đến cải cách hành chính công.

Để mở rộng kiến thức về các chính sách và hệ thống quản lý trong lịch sử Việt Nam, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ chính sách tôn giáo của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong thế kỉ XVII-XVIII, Luận văn chính sách kinh tế chỉ huy ở Nam Kỳ thời Pháp-Nhật 1939-1945, và Luận án tiến sĩ phong trào Đồng Khởi ở nông thôn đồng bằng các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên trong những năm 1964-1965. Những tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về các chính sách và phong trào lịch sử có ảnh hưởng đến hệ thống quản lý và xã hội Việt Nam.