CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGƯỜI QUẢN LÝ VÀ PHÁP LUẬT VỀ NGƯỜI QUẢN LÝ TRONG CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN 1. Khái quát về người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 1. Định nghĩa người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên Công ty TNHH được cho là ra đời vào cuối thế kỷ XIX, là sự ra đời muộn hơn so với loại hình công ty đối nhân hay công ty cổ phần và được xem là sản phẩm của quá trình lập pháp. Đây được đánh giá là loại hình công ty về một mặt nào đó mang màu sắc của cả công ty đối nhân và công ty đối vốn bởi các thành viên trong công ty TNHH thường quen biết nhau, việc góp vốn, thành lập và quản lý công ty cũng đơn giản và dễ dàng hơn so công ty cổ phần.
Đồng thời, với chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn, hay nói cách khác, các thành viên công ty chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn mà mình góp vào là phần đặc trưng của công ty đối vốn. Do đó, nó khắc phục được nhược điểm, phát huy tốt ưu điểm của hai loại hình công ty trên và vì thế, nó được nhiều các nhà đầu tư vừa và nhỏ lựa chọn để thực hiện công việc kinh doanh. Trên thế giới, mặc dù ở mỗi quốc gia lại có tên gọi khác nhau nhưng nhìn chung, có khá nhiều mô hình công ty được đánh giá là có cùng “dòng họ” với loại hình công ty TNHH có thể kể tới như mô hình proprietary của Úc; mô hình yuhan hoesa ở Hàn Quốc hoặc loại hình private company ở Anh,.Khi xem xét một cách khái quát, có thể thấy được một số đặc điểm chung của loại hình công ty TNHH này như sau: Thứ nhất, Công ty TNHH được coi là loại hình công ty có tư cách pháp nhân. Dù tên gọi khác và có nhiều đặc điểm không đồng nhất, nhưng phần lớn các quốc gia đều quy định đây là loại hình có tính độc lập về địa vị pháp lý và có sự tách bạch về tài sản đối với các cá nhân, tổ chức khác, ngay cả các cá nhân tham gia thành lập nên nó.
Do đó, mỗi thành viên chỉ phải chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn góp của họ. Đây là một lợi thế của loại hình công ty này do 8 việc có thể tự nhân danh chính mình tham gia các quan hệ pháp luật và hạn chế được rủi ro cho các thành viên công ty. Thứ hai, công ty TNHH có số lượng thành viên bị giới hạn. Do mang một phần đặc điểm của công ty đối nhân, các thành viên của công ty TNHH thường có mối liên hệ thân thiết, có thể là họ hàng hoặc bạn bè nên số lượng thành viên trên thực tế tham gia góp vốn thành lập thường không nhiều.
Đây là đặc điểm rất khác biệt so với loại hình CTCP vì CTCP thường không bị giới hạn về số lượng cổ đông. Tuy nhiên, số lượng thành viên tối đa của loại hình này là bao nhiêu còn tùy mỗi thuộc vào quy định của các quốc gia khác nhau. Thứ ba, công ty TNHH mang “tính đóng”. Loại hình này vẫn mang trong mình đặc điểm về sự liên kết, quan tâm đến yếu tố nhân thân của các thành viên của công ty đối nhân cùng việc số lượng thành viên bị giới hạn cho thấy tính đóng khá rõ ràng.
Ngược lại so với CTCP mang “tính mở” một cách rõ ràng bởi số lượng thành viên không bị giới hạn, các cổ đông cũng được tự do chuyển nhượng cổ phần của mình một cách dễ dàng (trừ một số trường hợp bị hạn chế về mặt thời gian) thì Công ty TNHH không được phép phát hành cổ phiếu để huy động vốn cũng như việc thay đổi thành viên góp vốn bằng cách chuyển nhượng vốn góp khá hạn chế khi phải tuân thủ một số điều kiện nhất định cũng là biểu hiện của “tính đóng” này. Từ đó có thể thấy, công ty TNHH hai thành viên trở lên sở hữu nhiều ưu điểm, phù hợp nguyện vọng, mong muốn kinh doanh của nhiều nhà đầu tư trên thị trường. Tuy nhiên, để một tổ chức có thể tồn tại và phát triển thì luôn cần có những người đứng đầu, giữ vai trò “đầu tàu” lèo lái tổ chức đó phát triển đúng hướng. Công ty TNHH hai thành viên trở lên cũng vậy, để công ty có thể duy trì hoạt động, phát triển ngày càng lớn mạnh, mọi hoạt động của công ty được tổ chức một cách có hệ thống thì cần phải có những người giữ vai trò quản lý, gọi là người quản lý.
Vậy NQL công ty TNHH hai thành viên trở lên là gì? Quản lý được hiểu là một hoạt động vô cùng cần thiết khi con người sống trong bất kỳ tập thể nào để phân công và phối hợp thực hiện các công việc. Tùy theo từng thời kỳ, chế độ xã hội khác nhau mà có nhiều định nghĩa khác nhau về “quản lý” được đưa ra. Theo Từ điển Tiếng Việt dành cho học sinh (2010) của tác giả Quang Thông, “quản lý” được hiểu theo hai nghĩa: (1) “quản lý là tổ chức, điều khiển và theo dõi 9 thực hiện như đường lối của chính quyền quy định” và (2) “quản lý là việc giữ gìn và sắp xếp”. Tuy nhiên, theo F.W Taylor - một trong những người khai sinh ra khoa học quản lý quan niệm rằng: “Quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết được chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.
Còn theo quan điểm của Henry Fayol - người đã phát triển học thuyết chung về quản trị kinh doanh (được gọi là học thuyết Fayol) thì: “Quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu: Lập kế hoạch, tổ chức, phân công điều khiển và kiểm soát các nỗ lực của bản thân, bộ phận và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, vật chất khác của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra”. Nhìn chung, mỗi một học giả, tác giả khác nhau lại có những quan điểm về quản lý khác nhau dựa trên lăng kính từng cá nhân. Tựu chung lại: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện thị trường luôn biến động” (Đỗ Hoàng Toàn (1999)). Quản lý được thể hiện ở nhiều dạng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như quản lý nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, quản lý các tổ chức sự nghiệp, quản lý các tổ chức kinh doanh.
Hoạt động quản lý được thể hiện dưới đa dạng hình thức như: chỉ đạo, khen thưởng, xử phạt, thanh tra, kiểm tra, giám sát. Đây là hoạt động bao gồm rất nhiều công việc khác nhau, từ công đoạn lập kế hoạch, tới thực hiện kế hoạch đề ra và bước kiểm tra, thanh tra và đánh giá hiệu quả công việc. Đây là một hoạt động mang tính tất yếu và phổ biến trong bất kỳ một lĩnh vực hay một tổ chức nào bởi trong một tập thể mà không có sự quản lý thì tập thể ấy không thể hoạt động một cách có hệ thống, không phối hợp hiệu quả các nguồn lực, thậm chí không thể duy trì tới cuối cùng để đạt mục tiêu đã đề ra. Xét theo góc độ quản trị, NQL được hiểu là người tiến hành hoạt động quản lý, là người chỉ đạo, điều khiển, giám sát công việc của những người khác trong tập thể.
Hoặc có thể nói, NQL là người đứng đầu tổ chức hoặc một bộ phận trong tổ chức, dùng quyền hạn của mình để nhân danh tổ chức để chỉ đạo, điều hành, chi phối hoạt động của những người “cấp dưới” trong tổ chức đó. Do đó, NQL đóng vai trò quan trọng đối với mọi hoạt động, bao gồm cả trong quá trị doanh nghiệp. 10 Theo đó, NQL công ty TNHH hai thành viên trở lên được hiểu là người chịu trách nhiệm trong việc dẫn dắt, lèo lái hoạt động của công ty thông qua các hình thức tác động khác nhau như: chỉ đạo, lãnh đạo, kiểm tra, giám sát, ra quyết định, giao nhiệm vụ, chi phối hành động của các thành viên khác trong công ty để thực hiện hoạt động kinh doanh và hướng tới mục tiêu, sứ mệnh mà công ty đang hướng tới. NQL có thể là người đứng đầu công ty với các chức danh được quy định cụ thể như: Thành viên Hội đồng thành viên, các Giám đốc, Chủ tịch Hội đồng thành viên, một số chức danh có vai trò quản lý khác trong công ty hoặc là người không chính thức được chỉ định làm NQL nhưng có tác động đến việc thực hiện công việc của một số thành viên khác trong công ty, ảnh hưởng tới quá trình hoạt động, phát triển, tồn tại của doanh nghiệp.
Vai trò của người quản lý công ty trong công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên NQL công ty TNHH hai thành viên trở lên được coi là “linh hồn” của doanh nghiệp, giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp ở nhiều góc độ và mối quan hệ khác nhau, cụ thể: Thứ nhất, vai trò trong bảo đảm lợi ích chung của công ty, chủ sở hữu và các thành viên công ty. NQL là những người họ nắm trong tay toàn quyền quản lý, điều hành các hoạt động nội bộ và hoạt động kinh doanh của công ty từ xây dựng kế hoạch hoạt động, sắp xếp bộ máy tổ chức, hình thành thương hiệu, văn hóa công ty,…. NQL trong công ty TNHH hai thành viên trở lên thực hiện quyền quản lý của mình thông qua quyền và nghĩa vụ theo quy định để đảm bảo quyền lợi tối đa cho doanh nghiệp. Song song với đó, NQL cũng đại diện cho chủ sở hữu và các thành viên khác trong việc thúc đẩy tầm nhìn và sứ mệnh của doanh nghiệp, mang lại lại ích cho các bên liên quan.
Tuy nhiên, đôi khi lợi ích của doanh nghiệp lại ngược lại với lợi ích cá nhân của các thành viên công ty, đặt ra một thách thức đối với NQL là phải giải quyết xung đột một cách có hiệu quả. Thứ hai, đối với người lao động: NLĐ và công ty là hai yếu tố tác động qua lại lẫn nhau, yếu tố này ảnh hưởng tới sự tồn tại, phát triển của yếu tố còn lại. Số lượng, chất NLĐ ảnh hưởng lớn tới sự phát triển, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.