CHƯƠNG 1: TRUYỆN NGẮN THỜI CHỐNG MỸ VÀ CHẤT THƠ TRONG TRUYỆN NGẮN 1. Truyện ngắn thời chống Mỹ Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, dân tộc ta phải đương đầu với một kẻ thù hung ác và hùng mạnh của thời đại. Cuộc chiến tranh bằng không quân và hải quân mà Mỹ tiến hành trên miền Bắc ngày càng ác liệt, đồng thời quân đội viễn chinh của Mỹ ồ ạt đổ vào miền Nam. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước để giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc kéo dài và diễn biến phức tạp, khiến cả dân tộc phải thống nhất muôn người như một, tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng, chưa bao giờ 16 cái khẩu hiệu “Tổ quốc trên hết”, lời thề “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” lại thiêng liêng, nóng bỏng và gắn với hành động yêu nước như lúc này.
Nền văn học cách mạng bước vào chặng đường mới. Cùng với thơ, các thể loại văn xuôi cũng phát triển mạnh và chuyển hướng rõ rệt, hướng vào các nhiệm vụ và mục tiêu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, giành độc lập hoàn toàn và thống nhất Tổ quốc. Trong đó, truyện ngắn phát triển mạnh và có nhiều thành tựu nổi bật trong như là một biểu hiện của sức sống, vẻ đẹp của thiên nhiên đất nước và nhất là vẻ đẹp tâm hồn của con người Việt Nam. Các thế hệ nhà văn đi tìm cảm hứng của mình từ trong khói lửa chiến tranh, trong nhịp điệu khẩn trương trên những công trường xây dựng.
Khuynh hướng sử thi là đặc điểm bao trùm trong truyện ngắn thời kỳ này. Với đội ngũ sáng tác đông đảo ở cả hai miền Nam Bắc, truyện ngắn Việt Nam giai đoạn chống Mỹ (1954-1975) trở nên có bề thế, dồi dào năng lực sáng tạo. Cuộc sống ở miền Bắc và vùng giải phóng miền Nam đã tạo tiền đề khách quan cho văn học, là mảnh đất tốt tươi cho những năng khiếu văn học trẻ. Lớp nhà văn xuất hiện và trưởng thành trong kháng chiến 17 chống thực dân Pháp, nay đã định hình và đóng vai trò chủ chốt trong đời sống văn học.
Xuất hiện nhiều tên tuổi mới mà sự nghiệp văn học được khởi đầu bằng truyện ngắn hoặc nhờ truyện ngắn mà thành danh: Nguyên Ngọc (Nguyễn Trung Thành), Đỗ Chu, Bùi Đức Aùi (Anh Đức), Nguyễn Ngọc Tấn ( Nguyễn Thi), Nguyễn Kiên, Lê Khâm (Phan Tứ), Vũ Thị Thường, Ma Văn Kháng, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Thành Long, Nguyễn Chí Trung, Dương Thị Xuân Quý. Bên cạnh văn học cách mạng, văn học yêu nước trong các đô thị và vùng bị tạm chiếm miền Nam có không ít các nhà văn sáng tác truyện ngắn thành công như Vũ Hạnh, Bình Nguyên Lộc, Lê Vĩnh Hòa, Trang Thế Hy, Sơn Nam, Nguyễn Nguyên. Mặc dù bị kiểm soát rất gắt gao, thậm chí có lúc tưởng như tắt lặng đi nhưng rồi khuyng hướng văn nghệ này vẫn 18 vận động với nhịp độ nhanh, mạnh, tạo thành một dòng chảy ngày càng sâu rộng. Những truyện ngắn của họ thường có sự kết hợp khá nhuần nhuyễn lối viết vừa hiện thực vừa tượng trưng làm cho tác phẩm càng trở nên lung linh, ẩn chứa một tâm sự kín đáo về đất nước, về đồng bào, về truyền thống nhân nghĩa của những người dân Việt Nam sống trong lòng địch.
Nhìn chung, truyện ngắn thời chống Mỹ vùng giải phóng, cũng như truyện ngắn chống Mỹ ngay trong thành thị miền Nam đã phục vụ kịp thời các nhiệm vụ cách mạng. Những vấn đề của hiện thực đời sống và con người đã được ghi chép, nhân rộng bằng nghệ thuật ngôn từ, bằng giọng điệu trần thuật giàu chất trữ tình. Vì thế trong kháng chiến chống Mỹ, những truyện ngắn đặc sắc của các nhà văn cách mạng như: Rừng xà nu, Rẻo cao (Nguyễn Trung Thành), Đất, Con chị Lộc (Anh Đức), Chiếc lược ngà, Quán rượu người câm (Nguyễn Quang Sáng), Mảnh trăng cuối rừng (Nguyễn Minh Châu), Hương cỏ mật, Phù sa (Đỗ Chu), Hoa rừng (Dương Thị Xuân Quý), Bức thư làng mực (Nguyễn Chí Trung), Xa phủ (Ma Văn Kháng) hay truyện ngắn của các nhà văn yêu nước vùng bị tạm chiếm miền Nam như: Chất ngọc (Vũ Hạnh), Một chuyến đò xuôi (Lê Vĩnh Hòa), Một thiếu nữ không đáng kể (Trang Thế Hy), Hương rừng Cà Mau (Sơn Nam). vừa có sức gợi cảm văn chương vừa có tác dụng truyền bá tinh thần yêu nước và nuôi dưỡng tâm hồn, nhân cách của con người thời đại.
Chất thơ trong truyện ngắn Chất thơ không còn là một thuật ngữ xa lạ hay mới mẻ đối với chúng ta. Bởi nó đã được sử dụng khá phổ biến trong các tài liệu lý luận nghiên cứu, phê bình văn học, đặc biệt là nền văn học Việt Nam hiện đại. Thế nhưng, để có thể định nghĩa được nó, chỉ ra những biểu hiện của nó trong văn xuôi nói chung và trong truyện ngắn nói riêng một cách cụ thể, rõ ràng, rành mạch không phải là một công việc dễ 19 dàng. Đúng như lời của Bùi Việt Thắng khi nói Về chất thơ trong truyện ngắn: “Đi tìm chất thơ trong truyện ngắn là đi tìm cái ta chỉ có thể cảm thấy, nếu chỉ ra nó rành rành, phân tích nó lập tức nó trở nên mơ hồ” [142, 329 ].
Tuy nhiên, đây không phải là một công việc quá khó đến nỗi chúng ta không thể không làm được. Chuyên khảo Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại của Hà Minh Đức là một trong những “kim chỉ nam” giúp người viết xác định khái niệm. Cuốn sách này, như tác giả đã tự xác định, “là một công trình nghiêng về lý luận thơ” [34, 5]. Công trình được biên soạn trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ cứu nước, vấn đề đầu tiên mà Hà Minh Đức tự đặt ra cho mình là: Xác định một quan niệm đúng đắn về thơ.
Để tiến tới giải quyết vấn đề này, bên cạnh kiến thức, kinh nghiệm tích lũy được hàng chục năm trong quá trình giảng dạy và nghiên cứu, phê bình văn học, ông đã vận dụng những yếu tố tích cực trong các công trình biên soạn từ trước như các giáo trình: Tác phẩm văn học, Thể loại văn học (1962), các bài phê bình thơ được tập hợp và xuất bản với nhan đề Nhà văn và tác phẩm. Nói chung, ông đã tìm hiểu, thăm dò quan niệm của rất nhiều nhà thơ xung quanh định nghĩa về thơ. Tuy có rất nhiều ý kiến, quan niệm khác nhau nhưng Hà Minh Đức đã chắt lọc những ý kiến tích cực, tiến bộ, cách mạng về thơ của các nhà thơ cổ điển, cũng như các nhà thơ hiện đại, rồi phân tích, tổng hợp, khái quát thành những luận điểm dần dần làm sáng tỏ bản chất của thơ. Thơ không ở đâu xa mà ở ngay trong đời sống, gắn liền với đời sống, hoài bão, và ước mơ lành mạnh của con người: nó “là sự thể hiện của con người và thời đại một cách cao đẹp” (Sóng Hồng), nó “biểu hiện tinh chất của đời sống”, “là tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí” (Tố Hữu).
Thơ là tiếng nói giao cảm mầu nhiệm, giữa người với người: “Cái chỗ đến cuối cùng của thơ là phải đem đến một cái gì nâng sự sống lên” (Huy Cận). Và nếu nghệ thuật là sự 20 sáng tạo, thì thơ là sự sáng tạo của sáng tạo : “Thơ ca và sáng tạo chỉ là một”(Apollinaire). Nó sáng tạo hướng theo tương lai, tìm về chân lý, khẳng định cái mới, góp phần cải tạo và xây dựng con người mới, cuộc sống mới. Nhưng với bản chất như trên, thơ có gì khác với văn xuôi? Bùi Công Hùng cho rằng: “Trong hình thức nghệ thuật thơ, nhạc điệu là một dấu hiệu đặc biệt…nhờ có nhạc điệu bên trong tâm hồn nhà thơ mà hiện thực không còn chung chung, dễ dãi nữa.
Chế Lan Viên thì quan niệm “Thơ đi giữa nhạc và ý” [Dẫn theo 64, 53]. Nhà thơ Nga Maiakốpxki thì cho là : “Nhịp điệu là sức mạnh cơ bản, năng lực cơ bản của câu thơ”. Như vậy, thơ và văn xuôi khác nhau ở nhạc tính, nhịp điệu. Nhịp điệu trong thơ là nhịp điệu có tổ chức trên cơ sở của những đặc điểm về ngôn ngữ dân tộc (âm thanh, tiết tấu, vần, đối…).
Nhưng nhịp điệu trong thơ không phải đơn thuần là hình thức ngôn ngữ mà chính là âm điệu, sắc thái, cường độ của cảm xúc, là nhịp điệu của tâm hồn và vận động theo sự rung động của cung bậc tình cảm. Văn xuôi cũng có nhịp điệu, nhưng nhịp điệu trong văn xuôi không bền vững, rõ ràng, liên tục, nhuần nhụy như nhịp điệu của thơ. Do đó, có những bài viết có vần, có nhịp đúng theo các luật thơ, nhưng không thể xem là thơ được. Ngược lại, có những bài văn xuôi có tính chất thơ và những bài thơ bằng văn xuôi.
Văn xuôi dạng này được gọi là văn xuôi trữ tình. Đó là dạng thức văn xuôi dung hợp, đa tạp, chuyển hóa một cách hài hòa, nhuần nhụy giữa chất thực và chất thơ, giữa tự sự với trữ tình, giữa hiện thực và lãng mạn. Chất thơ trong truyện ngắn là nét khu biệt trong đặc điểm thẩm mỹ của văn xuôi trữ tình. Đặc điểm cơ bản của truyện ngắn là thường viết bằng văn xuôi và có khuôn khổ nhỏ.
Văn xuôi lại rất gần với đời sống thường nhật, cách miêu tả khách quan, ngôn ngữ văn xuôi thường gần với lời nói hàng ngày hơn ngôn ngữ thơ. Sự hòa trộn yếu tố thơ và văn xuôi trong truyện ngắn, 21 một phần quan trọng là do đặc điểm thể loại truyện ngắn quy định (nhất là truyện ngắn hiện đại).Vậy thì ranh giới cuối cùng giữa thơ và văn xuôi là ở đâu?. Theo Hà Minh Đức, phải tìm sự phân biệt giữa thơ và văn xuôi ở cái gọi là chất thơ. Tìm được khái niệm chất thơ là tìm được hạt nhân lý luận để ông tiến hành xác định một quan niệm đúng đắn về thơ.
Vậy, thế nào là chất thơ ? Theo Hà Minh Đức, có chất thơ trong đời sống và chất thơ trong văn học. Chất thơ trong văn học là sự phản ánh chất thơ trong đời sống thông qua tâm hồn thơ của nhà văn. “Nó là một phẩm chất tổng hợp được tạo nên từ nhiều nhân tố”[34, 35]. Xác định chất thơ tất nhiên là một vấn đề khó, rất khó.
Đúng như nhà văn Nguyễn Tuân nhận xét: “Định nghĩa về chất thơ cho thật chính xác và toàn thập, tôi thấy nó cũng khó như định nghĩa cho chất uymua (humour)”.