mở đầu còn thực Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.vn 17 hiện vai trò thương lượng hội thoại như thống nhất về chủ đề, thăm dò đối phương, thử giọng điệu hội thoại,. Thông thường, trong đoạn mở thoại người ta thường tránh sự xúc phạm thể diện của người nghe, chuẩn bị một hoà khí cho cuộc thoại. Tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt, người mở thoại cố tình xúc phạm thể diện nhằm một mục đích hội thoại nào đó. Đoạn thoại kết thúc thường có chức năng tổ chức sự kết thúc cuộc gặp gỡ, để các thoại nhân cảm ơn, hứa hẹn, chúc tụng,.
Theo nguyên tắc lịch sự, cần tránh kết thúc đơn phương, đột ngột, trừ trong những tình huống đặc biệt. Có thể nói, ranh giới phân định các đoạn thoại còn chưa rõ ràng, gây nhiều khó khăn cho người nghiên cứu. Mặc dù vậy, đây vẫn là đơn vị thực có, và đôi khi, để phân biệt đoạn thoại này với đoạn thoại kia, người nghiên cứu ngoài các dấu hiệu hình thức buộc phải dựa vào trực cảm của mình. Cặp thoại “Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất của cuộc thoại do các tham thoại tạo nên.” [3, 320] Xét về mặt cấu trúc, cặp thoại thường do hai tham thoại tạo nên, được gọi là cặp thoại hai tham thoại.
Trong cặp thoại này, mỗi tham thoại tương ứng với một chức năng cụ thể. Tham thoại thứ nhất được gọi là “tham thoại dẫn nhập”, tham thoại thứ hai được gọi là “tham thoại hồi đáp”. Ở cặp thoại này, lượt lời trùng khớp với tham thoại, tham thoại trùng khớp với hành động ngôn ngữ. Cặp thoại hai tham thoại là dạng đơn giản, dễ nhận biết nhất trong thực tế giao tiếp ngôn ngữ.
Các trường hợp đặc biệt: Cặp thoại một tham thoại: Thường xảy ra dạng cặp thoại này khi SP2 thay cho hành động ngôn ngữ lại thực hiện hành động vật lý (mỉm cười, lắc đầu, vẫy tay.) hoặc im lặng, không có hành động gì, khiến cho cặp thoại rơi vào trạng thái “hẫng”. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.vn 18 Cặp thoại phức tạp: là cặp thoại có hơn hai tham thoại tham gia, có nhiều hành vi ngôn ngữ trong quan hệ ràng buộc lẫn nhau. Cặp thoại phức tạp có rất nhiều dạng phức tạp khác nhau. Đó có thể là cặp thoại có nhiều tham thoại dẫn nhập nhưng chỉ có một tham thoại hồi đáp.
Ngược lại, đó cũng có thể là cặp thoại chỉ có một tham thoại dẫn nhập với rất nhiều tham thoại hồi đáp. Trường hợp khác là dạng cặp thoại phức tạp do có nhiều tham thoại tham gia ở cả hai phía. Xét về mặt tính chất, có cặp thoại chủ hướng / cặp thoại phụ thuộc, cặp thoại tích cực / cặp thoại tiêu cực. Cặp thoại chủ hướng là cặp chủ đạo, giữ vai trò trung tâm, chứa nội dung chính của đoạn thoại.
Cặp thoại phụ thuộc là cặp thoại không tồn tại độc lập mà phụ thuộc vào cặp thoại khác. Cặp thoại phụ thuộc có chức năng bổ trợ, giải thích thêm cho những khía cạnh hay chi tiết nào đó của các tham thoại trong cặp thoại chủ hướng. Cặp thoại tích cực là cặp thoại có tham thoại hồi đáp thoả mãn đích của tham thoại dẫn nhập. Ngược lại, cặp thoại tiêu cực là cặp thoại có tham thoại hồi đáp không thoả mãn đích của tham thoại dẫn nhập.
Tham thoại “Tham thoại là phần đóng góp của từng nhân vật hội thoại vào một cặp thoại nhất định. Tham thoại là đơn vị cơ sở tạo nên cặp thoại, nó không đồng nhất với lượt lời. “Lượt lời là một lần nói xong của người này khi người khác không nói.” [7, 87] Lượt lời là đơn vị phát ngôn mang tính hình thức, trong khi đó, tham thoại là đơn vị chức năng chỉ được xác định trong cặp thoại. Một lượt lời có thể chứa hết hoặc không hết tham thoại: nó có thể trùng khít, hoặc nhỏ hơn (trong trường hợp tham thoại gồm nhiều lượt lời), hoặc lớn hơn ( trường hợp lượt lời chứa nhiều tham thoại) một tham thoại.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.vn 19 Tham thoại được cấu thành từ hai phần: phần cốt lõi và phần mở rộng. Phần cốt lõi của tham thoại bao gồm hành vi chủ hướng và hành vi phụ thuộc. Hành vi chủ hướng quyết định hướng của tham thoại và quyết định hành vi hồi đáp thích hợp của người đối thoại. Hành phụ thuộc giữ vai trò biện minh, củng cố, đánh giá.
hỗ trợ cho hành vi chủ hướng. Hành vi chủ hướng trong tham thoại dẫn nhập còn quyết định bản chất cặp thoại. Tên cặp thoại được xác định theo tên của hành vi chủ hướng trong tham thoại dẫn nhập. Phần mở rộng là các thành phần nằm ngoài khung tham thoại.
Các thành phần này không tham gia vào nội dung mệnh đề mà chỉ thực hiện chức năng liên kết các phát ngôn với nhau. Vị trí thành phần mở rộng rất linh hoạt, nó có thể đứng đầu, đứng cuối hoặc chen vào gữa tham thoại. Mặc dù không tham gia vào mệnh đề nhưng chúng có vai trò khá quan trọng, đó là đưa đẩy, rào đón, tạo lập quan hệ để cuộc thoại thành công một cách thuận lợi hơn. Hành vi ngôn ngữ Hành vi ngôn ngữ là đơn vị nhỏ nhất của cấu trúc hội thoại.
Để hiểu được các tham thoại, cặp thoại, đoạn thoại,. chúng ta đều phải căn cứ vào hành vi ngôn ngữ. Hành vi ngôn ngữ, hiểu một cách đơn giản, là hành động được thực hiện nhờ phương tiện là ngôn ngữ. Đó là “một đoạn lời có tính mục đích nhất định được thực hiện trong những điều kiện nhất định, được tách biệt bằng các phương tiện tiết tấu - ngữ điệu và hoàn chỉnh, thống nhất về mặt cấu âm – âm học mà người nói và người nghe đều có liên hệ với một ý nghĩa như nhau trong hoàn cảnh giao tiếp nào đó.” [59, 107] Người đầu tiên phát hiện ra bản chất của hoạt động trong lời nói là Austin trong công trình “Từ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.vn 20 ngữ làm nên sự vật thế nào?".
Theo Austin, có ba loại hành vi ngôn ngữ lớn, đó là: Hành vi tạo lời, hành vi mượn lời, hành vi ở lời. - Hành vi tạo lời: Là hành vi sử dụng các yếu tố ngôn ngữ với quy tắc của ngôn ngữ để tạo ra các phát ngôn, diễn ngôn với hình thức nhất định và nội dung tương ứng trong một cuộc giao tiếp. - Hành vi mượn lời: Là hành vi phát ra lời nói để nhằm đạt đến một hiệu quả nằm ngoài lời đó, tức là mượn phương tiện ngôn ngữ để gây ra một hiệu quả nào đó ngoài ngôn ngữ ở các nhân vật giao tiếp. - Hành vi ở lời: Là hành vi mà người nói thực hiện ngay trong lời nói của mình.
Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, tức chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận. [5, 514-515] Qua việc phân tích như trên, có thể thấy hành vi ngôn ngữ được hiểu rộng gồm ba loại: Hành vi tạo lời, hành vi mượn lời, hành vi ở lời. Mặc dù vậy, trong một số trường hợp, hành vi ngôn ngữ được hiểu hẹp hơn, dùng để chỉ hành động ở lời nói. Chúng tôi đồng tình với quan điểm này, bởi hành động ở lời và hiệu lực của hành động ở lời mới là đối tượng của Ngữ dụng học.
Chủ yếu dựa vào động từ ngữ vi, Austin chia hành vi ngôn ngữ thành 5 phạm trù khác nhau: - Phán xử: Đây là những hành vi đưa ra những lời phán xét về một sự kiện hoặc một giá trị dựa trên những chứng cớ hiển nhiên hoặc dựa vào lý lẽ vững chắc. - Hành xử: Đây là hành vi đưa ra những quyết định thuận lợi hay chống lại một chuỗi hành động nào đó. - Cam kết: Đây là những hành vi ràng buộc người nói vào một chuỗi hành động nhất định. - Trình bày: Đây là hành vi được dùng để trình bày các quan niệm, dẫn dắt, lập luận, giải thích cách dùng từ ngữ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.vn 21 - Ứng xử: Đây là những hành vi phản ứng đối với các cách xử sự của người khác, đối với các sự kiện có liên quan. Austin, dựa trên mười hai tiêu chí, trong đó quan trọng nhất là đích ở lời, hướng khớp lượng ghép lời - hiện thực, trạng thái tâm lý, nội dung mệnh đề, J. Searle đã phân loại các hành vi ngôn ngữ thành 5 nhóm sau: - Tái hiện : Gồm một số hành động tiêu biểu như: miêu tả, kể, xác nhận, khẳng định, thông báo, báo cáo,… + Đích ở lời là người phát thông qua phát ngôn của mình để xác nhận sự có mặt hoặc vắng mặt một sự việc nào đó. + Hướng khớp ghép là lời-hiện thực (lời phải phù hợp với hiện thực).
+ Trạng thái tâm lý là sự mong muốn ở người phát. + Nội dung mệnh đề là một mệnh đề đánh giá theo tiêu chí Đúng/Sai. - Điều khiển : Gồm các hành động : yêu cầu, đề nghị, ra lệnh, sai, mời, khuyên,…. + Đích ở lời là người phát thông qua phát ngôn của mình để đặt người nhận vào trách nhiệm thực hiện một hành động trong tương lai.
+ Hướng khớp ghép là hiện thực-lời nói (hiện thực phải phù hợp với lời) + Trạng thái tâm lý là sự mong muốn ở người phát. + Nội dung mệnh đề là hành động tương lai của người nhận. - Cam kết : Gồm các hành động: hứa, đe dọa,. + Đích ở lời là người phát thông qua phát ngôn của mình để tự đặt mình vào trách nhiệm phải thực hiện một hành động trong tương lai: + Hướng khởi ghép là hiện thực-lời nói (hiện thực phải phù hợp với lời).
+ Trạng thái tâm lý là ý định của người phát. + Nội dung mệnh đề là hành động tương lai của người phát. - Biểu cảm : Gồm các hành động: khen, phê bình, chê, xin lỗi, cảm ơn,… Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.vn 22 + Đích ở lời là người phát thông qua phát ngôn của mình để bày tỏ trạng thái tâm lý. + Hướng khớp ghép là lời hiện thực (lời phải phù hợp với hiện thực) + Trạng thái tâm lý thay đổi theo từng loại hành vi (vui thích/khó chịu, mong muốn/chối bỏ…).
+ Nội dung mệnh đề là hành động hoặc tính chất nào đó có tư cách là nguồn gây ra cảm xúc của người phát.