phần mở đầu (mục 4), trong mục này đề cập đến tín dụng NHTM. Theo đó, tín dụng NHTM phản ánh mối quan hệ tín dụng giữa bên cho vay là NHTM và bên đi vay (còn gọi là khách hàng) là các chủ thể khác trong xã hội. Căn cứ vào tiêu chí pháp lý và xét một cách tổng quát nhất, các chủ thể tham gia quan hệ tín dụng với các NHTM đƣợc chia thành 02 loại, đó là pháp nhân và cá nhân/thể nhân. Thông thƣờng, pháp luật quy 9 định, các cá nhân là khách hàng của NHTM từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật hoặc từ đủ 15 tuổi đến chƣa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật.
Từ những phân tích trên và trong phạm vi nghiên cứu đã xác định, luận văn rút ra kết luận và cho rằng, tín dụng khách hàng cá nhân của của NHTM là một hình thức cấp tín dụng của NHTM nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn cho khách hàng cá nhân để tiến hành sản xuất kinh doanh hoặc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, cải thiện chất lƣợng cuộc sống. Đặc điểm tín dụng khách hàng cá nhân của ngân hàng thƣơng mại Tín dụng khách hàng cá nhân (KHCN) là một loại hình tín dụng nên trƣớc hết có đầy đủ các đặc điểm tín dụng NHTM nhƣ: Tín dụng dựa trên cơ sở lòng tin; Tín dụng có tính thời hạn trong chuyển nhƣợng một lƣợng giá trị hay chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị; Tín dụng có tính hoàn trả vô điều kiện cả gốc và lãi khi đến hạn. Bên cạnh những đặc điểm chung, tín dụng KHCN còn có một số đặc điểm riêng biệt thể hiện qua quy mô giá trị/khoản vay, số lƣợng các khoản vay, chi phí, lãi suất, mức độ rủi ro. cụ thể nhƣ sau: Thứ nhất, số lƣợng các khoản vay lớn nhƣng quy mô giá trị/khoản vay nhỏ.
Sở dĩ tín dụng KHCN có số lƣợng các khoản vay lớn là do KHCN xuất phát từ dân số ngày càng gia tăng và xu hƣớng khuyến khích phát triển kinh tế tƣ nhân, cá thể của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Mặt khác, do sự phát triển kinh tế- xã hội nên nhu cầu ngày càng cao, đa dạng và phong phú nên các cá nhân trong xã hội, từ những ngƣời có thu nhập thấp và trung bình đến những ngƣời có thu nhập cao đều mong muốn, có nhu cầu cải thiện đời sống bằng thông qua vay tiêu dùng của NHTM. Tuy nhiên, quy mô giá trị/khoản vay nhỏ. Điều này xuất phát chủ yếu từ mục đích, nhu cầu và điều kiện vay vốn của KHCN.
Khi KHCN vay vốn tín dụng NHTM với mục đích SXKD do quy mô SXKD cá nhân thƣờng khiêm tốn, nhỏ bé hơn các tổ chức, doanh nghiệp nên nhu cầu vay vốn TD từ NHTM để bổ sung vốn SXKD không lớn; Và khi KHCN vay vốn của NHTM nhằm đáp ứng tiêu dùng cá nhân, phục vụ sinh hoạt và đời sống nhƣ mua nhà đất, mua sắm vật dụng gia đình, 10 xây dựng/ sửa chữa nhà, vay du học… số tiền cũng rất khiêm tốn so với nhu cầu vay vốn của các tổ chức và doanh nghiệp. Ngoài ra, quy mô giá trị/khoản vốn vay của KHCN còn có giới hạn bởi những quy định về điều kiện vay vốn từ các NHTM nhằm mục đích bảo đảm an toàn, hiệu quả trong kinh doanh. Thứ hai, tín dụng KHCN có mức độ rủi ro cao. KHCN dễ bị tổn thƣơng, suy giảm khả năng trả nợ từ những nguồn chủ yếu nhƣ kết quả SXKD, lƣơng và thu nhập từ lao động.
Rủi ro thƣờng gặp trong tín dụng KHCN bao gồm: * Rủi ro thông tin bất cân xứng trong thẩm định cho vay. Thông tin về bản thân khách hàng là một trong những yếu tố quan trọng là một cơ sở để NHTM ra quyết định chấp thuận hoặc từ chối cho vay, bên cạnh tính hợp lý và hợp pháp của nhu cầu vốn, khả năng trả nợ và tài sản đảm bảo. Khi thẩm định tín dụng, đối với khách hàng là tổ chức, doanh nghiệp việc nắm bắt thông tin khách hàng là tƣơng đối thuận lợi là do có nhiều nguồn thông tin đƣợc công khai nhƣ: Báo cáo tài chính, thông tin xếp hạng tín dụng, tình hình nộp thuế, uy tín thanh toán với các tổ chức tín dụng khác,…. nhƣng khi thẩm định đối với KHCN, việc đánh giá nhân thân, nguồn trả nợ, mục đích sử dụng vốn vay thƣờng khó đầy đủ và rõ ràng dẫn đến rủi ro thông tin bất cân xứng, khiến cho việc thẩm định khách hàng thiếu chính xác.
Nguồn trả nợ chủ yếu của KHCN là từ thu nhập ổn định ở thời điểm hiện tại. Do vậy, nếu ngƣời vay/KHCN gặp vấn đề sức khỏe, mất việc làm hay gặp các biến cố bất ngờ ảnh hƣởng đến thu nhập thì sẽ không trả đƣợc nợ vay cho NH. * Rủi ro tác nghiệp: Do đặc điểm của tín dụng cá nhân là quy mô mỗi khoản vay nhỏ nhƣng số lƣợng khoản vay lớn nên để đáp ứng tối đa nhu cầu khách hàng nhằm nâng cao kết quả công việc đòi hỏi sự phục vụ nhanh chóng của nhân viên phân tích tín dụng. Do đó, trong quá trình thẩm định hồ sơ tín dụng, nhân viên thƣờng hay chủ quan thẩm định sơ xài hoặc thậm chí thông đồng với khách hàng gây rủi ro cho NH.
11 Rủi ro này còn tăng lên đối với cho vay tín chấp, do ngân hàng cấp tín dụng trên cơ sở thẩm định uy tín của khách hàng tốt hay xấu mà không có biện pháp đảm bảo bằng tài sản. Trong trƣờng hợp đó, nếu khách hàng thực sự không có khả năng trả nợ vay hoặc có khả năng nhƣng không có ý chí trả nợ vay trong khi việc quản lý thông tin về sự thay đổi nơi cƣ trú, công việc của khách hàng là một điều không dễ dàng thì sẽ rất khó khăn cho ngân hàng khi xử lý khoản vay để thu hồi nợ. * TD KHCN dễ gặp rủi ro khác do hả năng hoàn trả vốn vay đối với các khoản cho vay tiêu dùng phụ thuộc vào thu nhập của ngƣời đi vay. Tuy nhiên, đối với những khách hàng cá nhân có thể do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan mà họ không thể thực hiện trả nợ hoặc trì hoãn trả nợ, từ đó gây ảnh hƣởng đến hiệu quả cho vay của ngân hàng.
Nhân tố chủ quan có thể là tình trạng “sức khoẻ” tài chính của ngƣời đi vay, công việc làm ăn không tốt … ảnh hƣởng trực tiếp đến năng lực tài chính của khách hàng, từ đó giảm khả năng thực hiện trả nợ của khách hàng. Các nhân tố khách quan nhƣ hạn hán, mất mùa, sự suy thoái của nền kinh tế dẫn đến khả năng mất việc cao… cũng là những nguy cơ ảnh hƣởng đến khả năng hoàn trả của khách hàng. Thứ ba, tín dụng KHCN thƣờng có chi phí cao hơn tổ chức, doanh nghiệp, bởi vì đặc điểm của KHCN là số lƣợng nhiều và phân tán rộng để duy trì, phát triển TDCN sẽ tốn kém nhiều chi phí nhƣ: Mở rộng hệ thống mạng lƣới, quảng cáo, tiếp thị tạo thuận lợi trong việc tiếp cận đối tƣợng khách hàng cá nhân ở từng địa bàn, khu vực; Đầu tƣ công nghệ hiện đại để quản lý và theo dõi các khoản vay; Phát triển nhân sự đầy đủ nhằm phục vụ khách hàng nhanh chóng, chính xác từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định đến quyết định cho vay, giải ngân và thu nợ; Các chi phí liên quan nhƣ: chi phí quản lý, văn phòng phẩm, điện, nƣớc, điện thoại, công tác hỗ trợ chi phí nhân viên… Thứ tư, lãi suất cho vay cá nhân thƣờng cao hơn lãi suất cho vay đối với cho vay tổ chức, doanh nghiệp bởi trƣớc hết cho vay KHCN có mức độ rủi ro cao nhƣ phân tích ở trên. Mặt khác, đối với các khoản vay cá nhân, ngân hàng thƣờng tốn nhiều chi phí cho việc thẩm định và phê duyệt vay, để bù đắp chi phí và thu lợi nhuận, ngân hàng thƣờng đặt ra mức lãi suất cao hơn so với cho vay doanh nghiệp.
12 Tuy nhiên, do giá trị/khoản vay nhỏ nên số tiền lãi không lớn và khách hàng thƣờng quan tâm đến số tiền mình phải trả hơn là lãi suất mà mình phải chịu. Thứ năm, Nhu cầu vay của khách hàng cá nhân thƣờng nhạy cảm theo chu kỳ kinh tế, tăng lên khi nền kinh tế mở rộng và giảm xuống khi nền kinh tế suy thoái. Ngoài ra, nhu cầu vay phụ thuộc nhiều vào hai biến số là mức thu nhập và trình độ học vấn của ngƣời vay. Nguồn trả nợ của khách hàng cá nhân chủ yếu phụ thuộc vào nguồn thu nhập của họ.
Nguồn trả nợ này có thể có những biến động lớn, phụ thuộc vào quá trình làm việc, kỹ năng và kinh nghiệm đối với công việc của họ, sức khỏe để làm việc. Sự kiểm soát các nguồn thu này nhiều khi rất khó khăn. Vai trò của tín dụng khách hàng cá nhân Nhƣ đã phân tích tại các mục trên cho thấy, tín dụng NHTM nói chung và TD KHDN nói riêng đã góp phần tích cực thực hiện chức năng điều hòa vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ chủ thể này sang chủ thể khác trên nguyên tắc hoàn trả vô điều kiện cả gốc và lãi theo thỏa thuận khi đáo hạn, từ đó vốn trong nền kinh tế đã đƣợc khai thác triệt để và sự dụng hiệu quả hơn vừa đem lại lợi ích chung cho nền kinh tế vừa đem lại lợi ích cho NHTM và khách hàng. Từ những phƣơng diện trên, trong mục này luận văn sẽ phân tích vai trò của TD KHCN dƣới 03 góc độ[4]: Đối với nền kinh tế; Đối với NHTM; Đối với khách hàng để từ đó khẳng định phát triển, mở rộng và nâng cao chất lƣợng TD KHCN của NHTM là chủ đề luôn cần đƣợc nghiên cứu nhằm phát huy vai trò của TD KHCN trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội, đạt đƣợc mục tiêu an toàn, hiệu quả kinh doanh của NHTM và đẩy lùi các tệ nạn xã hội, góp phần cải thiện cuộc sống của nhân dân, bảo đảm công bằng xã hội.
Một là, vai trò của TD KHCN đối với nền kinh tế.