phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo; nội dung chính của khóa luận đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chất lƣợng nguồn nhân lực và chiến lƣợc cạnh tranh của doanh nghiệp Chƣơng 2: Thực trạng và phân tích yếu tố nguồn nhân lực trong chiến lƣợc cạnh tranh của công ty Cổ phần Giao Hàng Tiết Kiệm Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chiến lƣợc cạnh tranh bằng chất lƣợng nhân lực của công ty Cổ phần Giao Hàng Tiết Kiệm Downloaded by NUOC LOC (nuocloc.com) lOMoARcPSD|38896048 4 Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ CHIẾN LƢỢC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP E-LOGICTICS 1. Khái niệm e-logictics Trong phạm vi khóa luận, tác giả tập trung tìm hiểu về e-logictics với khía cạnh là một ngành kinh doanh. Để hiểu rõ e-logictics là gì, chúng ta cần phải tìm hiểu từ khái niệm logictics.
Logictics là một từ mƣợn của tiếng Anh và tiếng Việt không thể có bất kì từ gì để diễn tả một cách tròn nghĩa. Trong thƣơng mại, logictics đƣợc hiểu là một trong những ngành dịch vụ hậu cần mà đƣợc hiểu đơn giản là quá trình chuẩn bị hàng hóa, sắp xếp, đóng gói, kẻ kí mã hiệu,bảo quản hàng hóa, vận chuyển hàng hóa và làm các thủ tục liên quan( nếu có) nhằm vận chuyển hàng hóa từ ngƣời bán đến tay ngƣời mua. Tại điều 233 Bộ Luật Thƣơng Mại Việt Nam(2005) cũng có giải thích cho từ logictics, cụ thể là: “Dịch vụ logistics là hoạt động thƣơng mại, theo đó thƣơng nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lƣu kho, lƣu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tƣ vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hƣởng thù lao. Dịch vụ logistics đƣợc phiên âm theo tiếng Việt là dịch vụ lô-gi-stíc”.
Vậy nên, có thể hiểu logictics là một ngành dịch vụ thực hiện các yêu cầu của khách hàng đối với việc vận chuyển và các yêu cầu liên quan đến quan đến việc vận chuyển hàng hóa từ tay ngƣời bán đến tay ngƣời mua. E-logistics là cụm từ xuất hiện cùng với sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các sàn TMĐT ở Việt Nam. Có thể hiểu logictics là dịch vụ về hàng hóa đối với các doanh nghiệp truyền thống còn e-logictics là dịch vụ hàng hóa đối với các doanh nghiệp sử dụng hình thức bán hàng trực tuyến. Vì vậy, e-logictics là ngành dịch vụ thực hiện các yêu cầu vận chuyển và liên quan đến việc vận chuyển của khách hàng đối với hàng hóa thông qua các giao dịch mua bán điện tử.
Lý thuyết về nguồn nhân lực 1. Khái niệm về nguồn nhân lực Downloaded by NUOC LOC (nuocloc.com) lOMoARcPSD|38896048 5 Nguồn nhân lực là một yếu tố quan trọng trong tổ chức,thậm chí, yếu tố này ngày nay còn đƣợc đánh giá là yếu tố quan trọng nhất và làm chi phối những yếu tố còn lại. Không những thế, mà hiện nay nguồn nhân lực còn đƣợc xem là một trong những tài sản lớn nhất của công ty và chính là phƣơng tiện giúp doanh nghiệp tăng cƣờng tối đa hiệu quả cung cấp sản phẩm và dịch vụ của mình( Vũ Văn Tuấn,2001). Vì thế, việc nghiên cứu về nguồn nhân lực là cần thiết cho sự phát triển của doanh nghiệp, tùy vào khía cạnh và cách tiếp cận khác nhau mà ta có những định nghĩa khác nhau về nguồn nhân lực, ngay cả những nhà nghiên cứu, các tổ chức quản lý và những tổ chức sử dụng lao động cũng có những cách diễn đạt rất phong phú về khái niệm này, cụ thể là: Theo bài giảng Quản Trị Nguồn Nhân Lực của ThS Hoàng Thu Thủy (2020), Nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực của mỗi con ngƣời mà nguồn lực này bao gồm 3 yếu tố là : thể lực, trí lực và tâm lực.
Trong đó thể lực là hàm ý để chỉ về sức khỏe thể chất, trí lực là hàm ý chỉ về trình độ học vấn chuyên môn và kinh nghiệm còn tâm lực là hàm ý chỉ về thái độ, tâm lý và khả năng chịu đƣợc áp lực trong công việc của ngƣời lao động. Vì vậy,nguồn nhân lực của một doanh nghiệp sẽ đƣợc hiểu là tất cả thành viên trong tổ chức sử dụng thể lực, tâm lực và trí lực của mình để thành lập, phát triển và duy trì doanh nghiệp. Theo giáo trình Quản trị nguồn nhân lực của PGS. Trần Kim Dung(2020): “ nguồn nhân lực là nguồn lực và khả năng của con ngƣời, là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội bao gồm số lƣợng và chất lƣợng lao động.
Nguồn nhân lực của tổ chức: bao gồm tất cả những ngƣời lao động làm việc trong tổ chức đó. Nhân lực đƣợc hiểu là nguồn lực của mỗi con ngƣời nguồn lực này bao gồm thể lực và trí lực”. Còn theo Liên Hợp quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con ngƣời có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nƣớc”. Trong khi đó,Ngân hàng thế giới lại cho rằng: “nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con ngƣời bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân”.
Còn xét theo gốc độ của ngƣời sử dụng lao động, thì “ nguồn nhân lực của một doanh nghiệp là tất cả các thành viên trong tổ chức sử dụng kiến thức, kỹ năng, trình độ, kinh nghiệm, hành vi đạo đức…để thành lập, phát triển và duy trì doanh nghiệp” Downloaded by NUOC LOC (nuocloc.com) lOMoARcPSD|38896048 6 Vì vậy, hiểu theo một cách tổng quan nhất, nguồn nhân lực của một công ty chính là bao gồm toàn bộ tất cả nhân viên trong công ty, không phân biệt vị trí, chức vụ và thu nhập sử dụng toàn bộ thể lực, tâm lực và trí lực của mình thực hiện những nhiệm vụ khác nhau, mà những nhiệm vụ này có thể đƣợc phối hợp với nhau hoặc độc lập với nhau nhƣng đều nhằm hƣớng đến một mục tiêu chung của công ty đã đề ra. Khái niệm về chất lƣợng nguồn nhân lực Trong thời đại ngày nay, con ngƣời đƣợc xem là một tài sản đặc biệt, vì vậy việc đầu tƣ vào con ngƣời đƣợc xem là một chiến lƣợc đúng đắn cho sự phồn vinh và phát triển của mọi quốc gia( Nguyễn Sinh Cúc, 2014). Chính vì vậy việc tập trung phát triển vào chất lƣợng nguồn nhân lực không chỉ là vấn đề mang tính chiến lƣợc cho bản thân doanh nghiệp mà nó còn mang đến ý nghĩa to lớn đối với toàn xã hội. Và với những vấn đề quan trọng nhƣ thế này thì đầu tiên là phải hiểu đƣợc về khái niệm chất lƣợng nguồn nhân lực là gì, từ đó mới có thể hoạch định đƣợc con đƣờng đúng đắn đạt tới mục tiêu nâng cao chất lƣợng nguồn lực này.
Vì nguồn nhân lực là một phạm trù có nhiều cách diễn đạt khác nhau, chính vì vậy,khái niệm chất lƣợng nguồn nhân lực cũng có nhiều cách trình bày, trong phạm vi bài nghiên cứu này, tác giả xin đƣa ra những cách diễn đạt sau đây: Theo bài viết của TS. Vũ Thị Mai thì “chất lƣợng nguồn nhân lực là mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của ngƣời lao động với yêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu cũng nhƣ thỏa mãn cao nhất nhu cầu của ngƣơi lao động”. Theo khái niệm này, thì nguồn nhân lực của mỗi tổ chức đều là những nguồn nhân lực có chất lƣợng theo quy chuẩn. Tuy nhiên, tùy vào những đặc điểm ngành nghề hoạt động khác nhau mà quy chuẩn về chất lƣợng nguồn nhân lực này có thể sẽ khác nhau.
Tuy nhiên, phần đông các nhà nghiên cứu đã chấp nhận luận điểm sau: “Chất lƣợng nhân lực là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận nhƣ trí tuệ, trình độ, sự hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khoẻ, thẩm mỹ. của ngƣời lao động. Trong các yếu tố trên thì trí lực và thể lực là hai yếu tố quan trọng trong việc xem xét đánh giá chất lƣợng nguồn nhân lực” Chất lƣợng nguồn nhân lực là sự biểu hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực đƣợc thể hiện ra bên ngoài bằng các tiêu thức: Downloaded by NUOC LOC (nuocloc.com) lOMoARcPSD|38896048 7 sức khỏe, trình độ chuyên môn, trình độ học vấn,v.( Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh và các cộng sự, 2009) Tuy nhiên, với thời buổi kinh tế thị trƣờng cạnh tranh toàn cầu nhƣ hiện nay, việc duy trì và đảm bảo chất lƣợng nguồn nhân lực thôi, vẫn chƣa đủ. Để phát triển bền vững, doanh nghiệp không chỉ cần chú trọng đến việc duy trì chất lƣợng nguồn nhân lực mà còn phải phát triển chất lƣợng của nhân tố này.
Để làm đƣợc điều đó, yêu cầu đặt ra cho các nhà quản trị là phải nắm rõ các khái niệm về chất lƣợng nguồn nhân lực, từ đó áp dụng vào doanh nghiệp của mình để cho ra những quy chuẩn về chất lƣợng nhân lực, rồi từ những quy chuẩn này đề ra các chính sách phù hợp để phát triển nguồn nhân lực trong công ty. Các yếu tố cấu thành chất lƣợng nguồn nhân lực Hiện nay các nhà nghiên cứu đều chấp nhận rằng có những yếu tố cơ bản sau đây cấu thành chất lƣợng nguồn nhân lực: kiến thức, kỹ năng, thái độ, sức khỏe. Tuy nhiên, đối với ngành e-logictics – ngành nghề đòi hỏi nhiều về sức khỏe và sự thích nghi cao trong quá trình làm việc, thì yếu tố tuổi tác lại là một trong những tiêu chí để tuyển chọn nhân viên. Bởi vì qua thời gian hoạt động, các nhà quản trị của ngành này nhận ra rằng, với việc là một ngành nghề mới, khách hàng mục tiêu thƣờng là những ngƣời trẻ và có những vấn đề yêu cầu sự chấp nhận ở mức cao thì những ngƣời trẻ, chƣa có kinh nghiệm nhiều sẽ dễ dàng chấp nhận và thích nghi hơn so với những ngƣời tuổi tác lớn hơn.
Kiến thức ngƣời lao động “Kiến thức là những dữ kiện, thông tin, sự mô tả, hay kỹ năng có đƣợc nhờ trải nghiệm hay thông qua giáo dục, có nhiều cách để lĩnh hội đƣợc kiến thức khác nhau nhƣng cùng chung mục đích là hiểu biết rộng hơn và phát triển hơn”7 Kiến thức ngƣời lao động ở đây là chỉ những kinh nghiệm, sự hiểu biết đƣợc bản thân họ tích lũy qua quá trình học tập, tiếp thu từ những trải nghiệm trƣớc đây.