Tổng quan nghiên cứu

Làng nghề tái chế sắt thép Châu Khê thuộc phường Châu Khê, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh sở hữu diện tích tự nhiên 495,86 ha cùng bề dày truyền thống rèn đúc kim loại hơn 400 năm từ thời nhà Mạc. Trong tiến trình công nghiệp hóa nông thôn, Châu Khê đã phát triển thành trung tâm sản xuất kim khí quy mô lớn với 900 cơ sở sản xuất thép vào năm 2022, cung ứng ra thị trường 1.800 nghìn tấn thép thành phẩm và tạo ra tổng giá trị sản xuất đạt 2.006,23 tỷ đồng. Tuy nhiên, sự tăng trưởng vượt bậc về mặt kinh tế đang đặt địa phương trước bài toán xung đột môi trường gay gắt khi mật độ dân số chạm ngưỡng 503 người/km2 và hoạt động sản xuất chủ yếu vận hành theo công nghệ lò thủ công lạc hậu.

Trước sức ép suy thoái tài nguyên, luận văn thạc sĩ ngành Địa lí Tự nhiên của tác giả Nguyễn Thị Tú, do Tiến sĩ Phạm Hương Giang hướng dẫn khoa học tại Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên, đã thực hiện đề tài nghiên cứu chất lượng môi trường không khí và nước tại làng nghề tái chế sắt thép Châu Khê. Mục tiêu cốt lõi của công trình là phân tích hiện trạng suy thoái của hai thành phần môi trường trọng yếu, làm rõ các tác nhân gây ô nhiễm từ chuỗi công nghệ tái chế và đề xuất hệ thống giải pháp phát triển bền vững.

Phạm vi không gian của luận văn bao quát toàn bộ 6 khu phố gồm Đa Hội, Đa Vạn, Đồng Phúc, Song Tháp, Trịnh Xá và Trịnh Nguyên, trong đó tập trung quan trắc không khí tại cổng trường tiểu học Đa Hội và lấy mẫu nước tại cống xả Cụm công nghiệp Châu Khê cùng lưu vực tiếp nhận sông Ngũ Huyện Khê. Phạm vi thời gian nghiên cứu thu thập chuỗi số liệu thực nghiệm liên tục trong 5 năm từ năm 2018 đến năm 2022. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học chuẩn xác nhằm kiểm soát dòng thải từ hơn 300.000 tấn sắt thép phế liệu tiêu thụ mỗi năm, bảo vệ sức khỏe cho hơn 34.578 nhân khẩu trong độ tuổi lao động tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết hệ thống sinh thái nhân văn và lý thuyết phát triển bền vững do Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới khởi xướng. Quan điểm hệ thống nhìn nhận làng nghề Châu Khê là một thể tổng hợp địa lý hoàn chỉnh, nơi các quá trình kinh tế kỹ thuật của con người tương tác mật thiết với các quyển tự nhiên. Hoạt động tái chế sử dụng tài nguyên và xả thải vào môi trường; khi tải lượng chất thải vượt quá khả năng tự làm sạch, toàn bộ hệ thống sẽ rơi vào trạng thái mất cân bằng sinh thái.

Mô hình nghiên cứu vận dụng quan điểm địa lý tổng hợp kết hợp phân tích tương tác không gian. Các khái niệm nền tảng được chuẩn hóa bao gồm:

  • Môi trường địa lý: Thể tổng hợp tự nhiên bao quanh xã hội loài người, trong đó khí quyển gồm 78,1% nitơ và 20,9% oxy giữ vai trò duy trì sự sống.
  • Ô nhiễm môi trường: Sự biến đổi tính chất vật lý, hóa học, sinh học của các thành phần môi trường vi phạm quy chuẩn kỹ thuật theo quy định của Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 và Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020.
  • Làng nghề công nghiệp tái chế kim loại: Cụm dân cư phi nông nghiệp có trên 30% tổng số hộ tham gia sản xuất độc lập, đóng góp từ 60% đến 80% thu nhập địa phương nhưng phát sinh dòng thải độc hại đặc trưng gồm bụi oxit kim loại, khí axit và nước thải mạ điện chứa kim loại nặng.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ nguồn thứ cấp và nguồn sơ cấp đáng tin cậy. Dữ liệu thứ cấp kế thừa các báo cáo quan trắc định kỳ 6 đợt thường niên giai đoạn 2018 - 2022 của Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh cùng số liệu phát triển công nghiệp từ Phòng Kinh tế thành phố Từ Sơn.

Để thu thập dữ liệu sơ cấp, tác giả thiết lập cỡ mẫu khảo sát thực địa gồm 50 đối tượng, áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích nhằm bảo đảm tính đại diện cao. Nhóm thứ nhất gồm 20 hộ gia đình trực tiếp vận hành sản xuất tái chế sắt thép để khảo sát quy trình công nghệ, nguyên nhiên liệu và thiết bị xử lý chất thải. Nhóm thứ hai gồm 30 hộ dân không tham gia sản xuất sinh sống xen cài trong làng nghề nhằm đánh giá khách quan mức độ ô nhiễm và tỷ lệ mắc bệnh thực tế.

Phương pháp phân tích trọng tâm là đối chiếu thực nghiệm chuỗi số liệu 5 năm với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia gồm QCVN 05:2013/BTNMT về chất lượng không khí xung quanh, QCVN 08-MT:2015/BTNMT về chất lượng nước mặt và QCVN 40:2011/BTNMT về nước thải công nghiệp. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích này là nhằm lượng hóa chính xác tỷ lệ vượt ngưỡng của các thông số hóa lý, nhận diện xu hướng biến động môi trường theo chuỗi thời gian. Đồng thời, tác giả ứng dụng phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lý GIS trên nền tảng phần mềm MapInfo để không gian hóa hiện trạng phân bố các điểm nóng ô nhiễm dọc theo chiều rộng hơn 200 m của sông Ngũ Huyện Khê.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích thực nghiệm giai đoạn 2018 - 2022 tại làng nghề tái chế sắt thép Châu Khê ghi nhận những phát hiện nổi bật sau:

Thứ nhất, hiệu suất thu hồi nguyên liệu phế liệu thấp làm phát sinh lượng bụi và khí thải khổng lồ. Từ nguồn nguyên liệu khoảng 300.000 tấn sắt thép phế thải tiêu thụ mỗi năm, cứ 1 tấn phế liệu đưa vào nung nấu chỉ thu hồi được khoảng 70% sản phẩm thép phôi, trong khi 20% chuyển hóa thành xỉ thải rắn và 10% tiêu hao bay hơi dưới dạng bụi và khí độc. Nồng độ tổng bụi lơ lửng TSP tại khu vực dân cư Đa Hội vượt ngưỡng cho phép từ 2 đến 3 lần, nồng độ khí CO và SO2 tại các cơ sở đúc thép vượt gần 2 lần quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.

Thứ hai, vi khí hậu làm việc bị suy thoái bởi tiếng ồn và bức xạ nhiệt. Tiếng ồn vận hành từ các dây chuyền máy cán, kéo, đột dập thép dao động liên tục và vượt từ 3 đến 10 dBA so với quy chuẩn cho phép. Bức xạ nhiệt tại các phân xưởng nấu đúc thép lò đứng và lò trung tần khiến nhiệt độ làm việc thực tế cao hơn nhiệt độ môi trường tự nhiên bên ngoài từ 8 đến 10 độ C.

Thứ ba, nguồn nước mặt và nước thải công nghiệp ô nhiễm nghiêm trọng. Nhu cầu nước làm mát máy lên đến 4.500 nghìn m3/năm cùng lượng axit H2SO4 tiêu thụ 94.800 kg/năm phục vụ quá trình tẩy rỉ và mạ kẽm. Kết quả quan trắc nước thải tại Cụm công nghiệp Châu Khê cho thấy 100% mẫu phân tích đều có các thông số COD, BOD5, TSS và hàm lượng kim loại nặng Fe, Zn vượt quy chuẩn từ 5 đến 20 lần trước khi xả thẳng ra kênh mương thủy lợi.

Thứ tư, tỷ lệ bệnh tật liên quan đến ô nhiễm môi trường tăng cao trong cộng đồng. Kết quả khảo sát y tế học đường và dân cư ghi nhận tỷ lệ lao động mắc hội chứng suy nhược thần kinh do tiếng ồn và căng thẳng nhiệt chiếm 71,8%, trong khi tỷ lệ người dân mắc các bệnh lý đường hô hấp mãn tính do hít phải bụi sắt và khí axit chiếm tới 65,6%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân trực tiếp dẫn tới tình trạng ô nhiễm không khí và nguồn nước bắt nguồn từ công nghệ sản xuất chắp vá của 2.052 hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp. Các xưởng cán kéo tiêu thụ hơn 250 tấn dầu máy mỗi năm nhưng không có bể thu gom dầu mỡ, kết hợp quá trình đốt than nung thép thủ công làm bốc hơi lượng lớn khí SO2, CO và các hạt bụi oxit sắt kích thước nhỏ. Thêm vào đó, việc quy hoạch cụm công nghiệp chưa triệt để khiến các xưởng đúc thép nằm xen kẽ trong khu dân cư đông đúc, gây cản trở sự khuếch tán khí quyển và làm gia tăng nồng độ ô nhiễm tích tụ.

So sánh với các nghiên cứu tương đồng tại miền Bắc, mức độ ô nhiễm bụi và khí than tại Châu Khê tương đương với làng nghề sản xuất giấy Phong Khê, nơi nồng độ khí CO vượt tiêu chuẩn từ 28 đến 36 mg/l. Tuy nhiên, tính chất nguy hại của dòng thải tại Châu Khê cao hơn do sự hiện diện thường trực của hơi axit và ion kẽm từ quy trình mạ kim loại sử dụng 500 kg kẽm nguyên liệu hàng năm.

Để trực quan hóa các kết quả nghiên cứu, dữ liệu quan trắc không khí 5 năm được mô tả tối ưu thông qua biểu đồ đường đa trục thể hiện sự tương quan nghịch biến giữa lượng mưa mùa khô và nồng độ bụi TSP tại điểm quan trắc QTMKK1. Đồng thời, một bảng số liệu so sánh đối chiếu đa chỉ tiêu về nồng độ DO, COD, TSS giữa nguồn nước mặt tiếp nhận sông Ngũ Huyện Khê và cống xả trạm bơm Đa Hội sẽ làm nổi bật sự sụt giảm nghiêm trọng của hàm lượng oxy hòa tan từ 5,5 mg/l xuống dưới 2,0 mg/l, cung cấp bằng chứng trực quan về nguy cơ hoại tử nguồn nước mặt.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phục hồi chất lượng môi trường không khí và nước tại làng nghề Châu Khê, tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ:

  1. Quy hoạch không gian và hoàn thiện hạ tầng: Ủy ban nhân dân thành phố Từ Sơn và Ủy ban nhân dân phường Châu Khê cần khẩn trương rà soát, tiến hành di dời 100% trong số 657 cơ sở đúc thép và 410 cơ sở cán thép đang hoạt động trong khu dân cư vào Cụm công nghiệp Châu Khê tập trung trước quý IV năm 2025, phấn đấu chấm dứt hoàn toàn hoạt động nung cán thép tự phát trong ngõ xóm vào năm 2026.

  2. Cải tiến kỹ thuật và lắp đặt hệ thống lọc bụi: Ban Quản lý Cụm công nghiệp bắt buộc các chủ doanh nghiệp đầu tư lắp đặt hệ thống thu gom khí thải cục bộ gồm chụp hút, xyclon lọc bụi túi vải và tháp hấp thụ kiềm ướt để trung hòa khí SO2, đặt chỉ tiêu cắt giảm 35% đến 40% nồng độ bụi lơ lửng TSP tại nguồn trong giai đoạn 2024 - 2025; đồng thời chuyển đổi tối thiểu 50% lò than thủ công sang công nghệ lò điện cảm ứng trung tần.

  3. Xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh cần phê duyệt dự án đầu tư trạm xử lý nước thải công nghiệp tập trung với công suất thiết kế 3.000 m3/ngày đêm tại Cụm công nghiệp Châu Khê trước tháng 12 năm 2025; vận hành quy trình keo tụ tạo bông kết hợp lắng hóa lý để xử lý triệt để 94.800 kg axit H2SO4 và ion kim loại nặng, bảo đảm 100% nước thải đạt tiêu chuẩn cột A theo QCVN 40:2011/BTNMT trước khi xả ra sông Ngũ Huyện Khê.

  4. Thiết lập mạng lưới quan trắc và chế tài pháp lý: Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Từ Sơn phối hợp cơ quan chức năng lắp đặt 2 trạm quan trắc tự động liên tục đối với bụi không khí và nước thải tại khu vực Đa Hội trong năm 2024; duy trì tần suất kiểm tra đột xuất tối thiểu 4 đợt/năm và kiên quyết xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 45/2022/NĐ-CP đối với các cơ sở cố tình xả lén chất thải độc hại.

  5. Truyền thông cộng đồng và tăng cường bảo hộ lao động: Trạm Y tế phường Châu Khê phối hợp các đoàn thể địa phương tổ chức 12 lớp đào tạo thường niên về vệ sinh an toàn lao động, cấp phát mặt nạ lọc độc chuyên dụng nhằm đạt mục tiêu 100% người lao động trực tiếp tại 900 xưởng rèn đúc được bảo vệ hô hấp trước năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn cao, là tài liệu tham khảo đắc lực cho 4 nhóm đối tượng trọng điểm:

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Ninh cùng Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Từ Sơn. Cán bộ quản lý có thể sử dụng chuỗi số liệu thực nghiệm 5 năm giai đoạn 2018 - 2022 để xây dựng phương án khoanh vùng ô nhiễm, phục vụ đề án kiểm soát chất lượng môi trường cho 62 làng nghề truyền thống trên địa bàn toàn tỉnh Bắc Ninh.

Nhóm thứ hai là các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Địa lý Tự nhiên, Quản lý Tài nguyên Môi trường và Đô thị học. Các nhà nghiên cứu có thể ứng dụng khung lý thuyết hệ thống, phương pháp chọn mẫu phân tầng 50 đối tượng và quy trình tích hợp bản đồ GIS trên MapInfo làm tài liệu tham khảo phương pháp luận để triển khai các đề tài nghiên cứu tại hơn 1.400 làng nghề nông thôn khắp cả nước.

Nhóm thứ ba là các chủ cơ sở sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp tái chế kim loại tại thành phố Từ Sơn. Việc thấu hiểu định mức tiêu hao 300.000 tấn phế liệu và tỷ lệ thất thoát xỉ 20% giúp các chủ xưởng tái cấu trúc quy trình công nghệ, chủ động kiểm soát thất thoát nhiệt năng và nước làm mát, vừa giảm thiểu chi phí nguyên liệu vừa đáp ứng các tiêu chuẩn thanh tra môi trường.

Nhóm thứ tư là các chuyên gia dịch tễ học và y tế cộng đồng. Dữ liệu thực chứng về tỷ lệ 71,8% người suy nhược thần kinh và 65,6% người mắc bệnh hô hấp cung cấp bức tranh lâm sàng rõ nét để trạm y tế địa phương xây dựng hồ sơ theo dõi sức khỏe và tổ chức khám tầm soát bệnh nghề nghiệp định kỳ 2 lần/năm cho cư dân làng nghề.

Câu hỏi thường gặp

Hoạt động tái chế sắt thép tại Châu Khê sinh ra các dạng khí thải độc hại nào? Quá trình đốt than nung thép và nấu chảy phế liệu kim loại phát sinh lượng lớn bụi oxit sắt, oxit kẽm cùng các khí độc như CO, CO2, SO2 và NO2. Tại khu vực lò nung của 657 hộ đúc thép, nồng độ bụi TSP và khí CO đo được đều vượt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia từ 2 đến 3 lần.

Chất lượng nguồn nước mặt quanh làng nghề Châu Khê bị suy thoái bởi những tác nhân nào? Nguồn nước tiếp nhận sông Ngũ Huyện Khê tiếp nhận khoảng 4.500 nghìn m3 nước làm mát lẫn dầu mỡ mỗi năm cùng tồn dư của 94.800 kg axit H2SO4 từ công đoạn tẩy rỉ. Các chỉ số COD, BOD5 và kim loại nặng Fe, Zn trong nước thải đều vượt giới hạn cho phép từ 5 đến 20 lần.

Quy mô kinh tế của làng nghề Châu Khê đóng góp như thế nào cho địa phương? Làng nghề Châu Khê đạt tốc độ phát triển mạnh mẽ với 900 cơ sở sản xuất thép vào năm 2022, cung ứng 1.800 nghìn tấn thép các loại, tạo giá trị sản xuất công nghiệp 2.006,23 tỷ đồng và mang lại thu nhập bình quân từ 6,5 đến 7,0 triệu đồng/tháng cho hơn 1.000 lao động chính thức.

Tác động của ô nhiễm làng nghề đối với sức khỏe cư dân được ghi nhận ở mức độ nào? Khảo sát y tế tại địa phương chỉ ra môi trường ô nhiễm khói bụi và tiếng ồn vượt chuẩn 10 dBA làm 71,8% lao động mắc chứng suy nhược thần kinh. Ngoài ra, việc hít thở thường xuyên hơi axit và bụi kim loại khiến 65,6% cư dân bị viêm phế quản và các bệnh hô hấp mãn tính.

Phần mềm MapInfo và công nghệ GIS mang lại lợi ích gì cho việc đánh giá môi trường làng nghề? Công nghệ GIS trên phần mềm MapInfo cho phép tác giả số hóa và khoanh vùng chính xác các tâm điểm ô nhiễm nước mặt và không khí tại 6 khu phố. Phương pháp này giúp biểu diễn trực quan phạm vi ảnh hưởng của dòng thải dọc theo hơn 200 m mặt cắt ngang sông Ngũ Huyện Khê.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện hiện trạng chất lượng môi trường không khí và nước tại làng nghề tái chế sắt thép Châu Khê thông qua chuỗi số liệu quan trắc thực nghiệm 5 năm từ năm 2018 đến năm 2022.
  • Công trình đã lượng hóa chính xác dòng thải từ công đoạn tái chế 300.000 tấn sắt thép phế liệu và sử dụng 94.800 kg hóa chất axit H2SO4 của 900 cơ sở sản xuất kim khí tại địa phương.
  • Nghiên cứu chỉ rõ tác động tiêu cực của chất thải công nghiệp đến sức khỏe cộng đồng khi có tới 71,8% người lao động bị suy nhược thần kinh và 65,6% người dân mắc bệnh đường hô hấp.
  • Tác giả đã ứng dụng thành công hệ thống thông tin địa lý GIS để thành lập bản đồ phân bố tải lượng ô nhiễm không gian, làm sáng tỏ phạm vi phát tán chất thải theo hướng gió và lưu vực sông Ngũ Huyện Khê.
  • Luận văn đã đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ và khả thi nhằm phấn đấu xử lý 100% nước thải công nghiệp và cắt giảm 35% đến 40% nồng độ bụi phát tán trong giai đoạn 2024 - 2026.

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Tú là công trình khoa học nghiêm túc, cung cấp cơ sở dữ liệu quan trắc quý báu và định hướng giải pháp thiết thực cho công tác bảo vệ môi trường làng nghề công nghiệp. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp hãy khai thác ngay những phát hiện của đề tài để chung tay triển khai các biện pháp kỹ thuật, thúc đẩy làng nghề Châu Khê phát triển thịnh vượng, bền vững và an lành.