Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Chất lượng cuộc sống. Khái niệm chất lượng cuộc song. Chất lượng cuốc sống là những cảm nhận của các cá nhân về cuộc sống của mỗi người trong bối cảnh văn hóa và các hệ thống giá trị mà họ đang sống và liên quan đến các mục đích, nguyện vọng, tiêu chuẩn và các mối quan tâm (WHO, 1995) [58], CLCS là một thuật ngừ mang ỷ nghĩa tong thể, bao gồm các khía cạnh của hạnh phúc và hài lòng với tất cả mọi mặt của cuộc sống [29, 39].
Khái niệm CLCS được chấp nhận bao gồm những đo lường cá nhân về sự hài lòng trước các yểu tố đa dạng của cuộc sống. Sự đánh giá này bao gồm những phản ứng của cảm xúc trước các sự kiện của đời sống, cảm giác hài lòng với công việc cũng như những mối quan hệ cá nhân [44, 49], Đặc biệt, khi đề cập đến CLCS ở tuổi già, phải chú ý đến đặc trưng do sự lão hóa, từ lão hóa tự nhiên đến sự lão hóa với tình trạng bệnh tật và sự phụ thuộc. Do đó, chúng ta phải xem xét sự giảm CLCS của NCT không chỉ ở trong các cơ sở y tế hay do tình trạng bệnh tật, mà cần có một cái nhìn tổng quan trong đời sống của NCT nói chung [49]. Quan niệm về CLCS NCT ở Việt Nam.
Quan niệm về CLCS NCT ở Việt Nam bao gồm 6 khía cạnh sau [10]: 1. Khía cạnh Sức khỏe the chất. Đối với NCT, tình trạng lão hóa đi kèm với những vẩn đề sức khỏe là khá phô biến và khả năng chấp nhận tình trạng sức khỏe có sự khác nhau giữa những NCT dẫn đến những cảm nhận về ảnh hưởng của tình trạng sức khỏe giữa họ là khác nhau. Vì vậy, mức độ tác động của những vấn đề sức khỏe đến NCT ảnh hưởng bởi sự đánh giá chủ quan của chính họ.
Khía cạnh Tâm lý. Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy, NCT cũng đã đề cập đến những yếu tố chung của khía cạnh tâm lý như: cảm giác buồn chán trong cuộc sống, sự hài lòng về các mối quan hệ với con cái, họ hàng và cộng đồng. Một trong những đặc trưng của xã hội Việt Nam là các mối quan hệ gia đình và cộng đồng có ảnh hưởng nhiều đến các cá nhân, đặc biệt đối với NCT. Do đó, “sự thanh thản” của NCT gắn rất chặt chẽ với con cháu và cộng đồng nơi NCT sinh sống.
NCT nhấn mạnh nhiều đến sự trưởng thành của con cháu; sự tôn trọng, lắng nghe của cộng đồng; nhu cầu chia sẻ và ưò chuyện với những người xung quanh; và yên tâm về hậu sự khi về già (như việc ma chay tang lễ của mình, yên tâm về con cái). Khía cạnh Xã hội. Các mối quan hệ xã hội của NCT là một trong những nội dung được NCT đề cập nhiều nhất khi thảo luận về những yếu tổ quan trọng đối với cuộc sống của NCT. NCT nhấn mạnh nhiều đến sự “hài hoà”, “vui vẻ” trong các quan hệ gia đình (chủ yếu là quan hệ với con cháu), kế đến là với họ hàng, hàng xóm láng giềng, và cộng đồng xung quanh.
Vai trò của NCT trong gia đình là một yếu tố rất quan trọng đối với NCT ở Việt Nam. Họ nhấn mạnh đến sự chia sẻ, quan tâm chăm sóc của con cháu; sự hỗ trợ của NCT đối với các thành viên trong gia đình và sự tham gia vào các hoạt động của cộng đồng giúp họ có cảm giác có ích đổi với gia đình và cộng đồng. Tuy nhiên, thông tin nghiên cứu định tính cũng cho thấy, nhu cầu được hỗ trợ của con cháu đôi khi cũng là những gánh nặng đối với NCT. Ở nông thôn, do con cái đi làm ăn xa nên NCT phải thay chăm sóc cháu thường xuyên cũng làm cho NCT thấy mệt mỏi.
Do đó, trong bộ công cụ đo lường CLCS NCT ở Việt Nam cũng cần thiết đo lường mức độ NCT hỗ trợ con cháu và sự hài lòng của họ về sự hồ trợ đó. Khía cạnh Môi trường. Nghiên cứu về CLCS NCT Việt Nam, NCT cũng đề cập đến những vấn đề thuộc về môi trường ảnh hưởng đến cuộc sống của họ như môi trường tự nhiên, môi trường nhà ờ, tiếp cận các dịch vụ (đặc biệt là dịch vụ chăm sóc sức khỏe), yếu tố tham gia vào các hoạt động giải trí cũng được NCT ở cộng đồng đề cập đến nhưng họ nhấn mạnh dưới khía cạnh quan hệ xã hội trong cộng đồng nhiều hơn nên yếu tố này được chuyển sang khía cạnh quan hệ xã hội. Khỉa cạnh Niềm tin.
Các yếu tố về niềm tin đề cập đến ý nghĩa của niềm tin cá nhân, ý nghĩa của cuộc sống và vai trò của niềm tin để vượt qua những khó khăn trong cuộc sống. Thông tin định tính cho thay NCT đề cập đến ý nghĩa của việc tham gia vào các hoạt động tôn giáo, tâm linh. Ngoài ra, niềm tin về thế hệ trẻ và niềm tin vào sự ổn định của thể che kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội cũng được NCT đề cập đến như một yếu tố giúp họ an tâm với cuộc sống hiện tại. Khỉa cạnh Kinh tế.
Khía cạnh kinh tế là một trong những vấn đề được NCT, đặc biệt những NCT ở nông thôn với đặc điểm phần lớn là làm nông nghiệp, không có che độ lương hưu khi về già, một mặt phải cố gắng độc lập về kinh tế với con cái, một mặt họ cũng có thể là những người phải chịu gánh nặng về kinh tế khi vẫn phải chăm sóc cho bố mẹ già và con cái của họ. Những yếu tố liên quan đến khía cạnh kinh tế được NCT đề cập đến trong nghiên cứu này mang tính chất đa dạng và chi tiết hơn nhiều như: có thu nhập hàng tháng, sự phụ thuộc kinh tế vào con cái, sự hỗ trợ kinh tế từ con cái, sự hỗ trợ kinh tế của NCT cho con cái và người thân, sự đảm bảo về kinh te để có thể có tiền mua những thức ăn mình thích, đủ tiền mua sắm những vật dụng trong gia đình, có tiền để khám chữa bệnh cũng như có tiền để tham gia vào các hoạt động tại cộng đồng như đám cưới, đám ma hay lễ hội, chùa chiền v. Các khía cạnh cấu thành CLCS NCT có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và không thể tách rời. Điều này có nghĩa là không thể đánh giá CLCS NCT bằng việc đo lường hay phân tích riêng lẻ từng khía cạnh.
Mối liên hệ chặt chẽ giữa các khía cạnh cũng được các nghiên cứu trên thế giới khẳng định [48]. Theo đó, sức khỏe và kinh tế là hai yếu tố tác động nhiều nhất đến các yếu tố khác. Do vậy, khi can thiệp vào đời sống NCT cần ưu tiên tác động các yểu tố này. Từ đó sẽ có ảnh hưởng tích cực đến các yếu tó khác, cũng như đến việc nâng cao CLCS NCT.
7 Những vấn đề sức khỏe có mối liên quan chặt chẽ đến các khía cạnh khác như khía cạnh xã hội (không có khả năng lao động giúp con cháu, không có khả năng đi lại nên hạn chế việc tham gia các hoạt động của cộng đồng), khía cạnh kinh tế (không có tiền để đi bệnh viện, phải đi vay mượn tiền, gánh nặng cho con cháu.), và khía cạnh tâm lý (lo nghĩ về bệnh tật). Khía cạnh tâm lý liên quan đến các khía cạnh khác như quan hệ xã hội (không phải lo nghĩ về con cháu, hài lòng trong các mối quan hệ với gia đình, họ hàng và những người xung quanh); khía cạnh kinh tế (sự đầy đủ về vật chất); và khía cạnh sức khỏe (không phải lo lắng về sức khỏe, bệnh tật). Các yếu tó của khía cạnh xã hội có mối liên hệ chặt chẽ với các khía cạnh khác nhưkinh tế (không có tiền để tham gia các hoạt động xã hội như đi tham quan, tang ma phúng điếu tại cộng đồng.), khía cạnh tâm lý (thoải mái/ không phải suy nghĩ về các mối quan hệ gia đình, cộng đồng). Khía cạnh kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ và nhiều nhất với các khía cạnh còn lại như xã hội (sự trợ giúp của con cái và trợ giúp con cái của NCT; sự tham gia vào các hoạt động xã hội của cộng đồng), sức khỏe (có tiền đê đi khám và điều trị bệnh tại bệnh viện), tâm linh/ niềm tin (có tiền để đi chùa chiền, thực hành tôn giáo/ tín ngưỡng), tâm lý (tư tưởng thoải mái khi không phải lo lắng về kinh tế).
Các công cụ đo lường chất lượng cuộc sống. Trên thế giới. Trên thế giới có rẩt nhiều bộ công cụ đo lường CLCS nói chung hoặc CLCS về một số khía cạnh đời sống của con người như sức khỏe. Hầu hết các bộ công cụ đo lường CLCS có thể được sử dụng với NCT, chẳng hạn như The European Quality of Life Scale (McDowel & Newel, 1996) [48], The Short Form-36 Health Survey (SF-36; McDowel & Newell, 1996), The Health Status Questionaire-12 (Bowling & Windsor, 1997) đều đề cập đến 3 khía cạnh cơ bản của CLCS: khía cạnh sức khỏe thể chất, khía cạnh tâm lý và khía cạnh xã hội [43].
Wada và cộng sự trong nghiên cứu về CLCS NCT tại 3 nước Châu Á (Indonesia, Việt Nam và Nhật Bản) đã đưa ra một cách tiếp cận khác gồm 4 khía cạnh: sức khỏe thể chất (nhận thức chú quan về sức khỏe), khía cạnh xã hội (quan hệ với gia đình, quan hệ với bạn bè), khía cạnh tài chính, và khía cạnh tinh thần (hạnh phúc của NCT) [37]. 8 Nhìn chung, các bộ công cụ chủ yểu tập trung vào 3 khía cạnh: the chất, tâm lý và xã hội. Tuy nhiên, hầu hết các bộ công cụ tổng hợp đuợc đều không đuợc phát triển riêng để đo lường CLCS chung của NCT. Đồng thời do sự khác biệt về bối cảnh tại mỗi nước mà không phù hợp để đánh giá cho NCT tại nước ta, hoặc nếu đánh giá phải có sự chỉnh sửa cho phù hợp.
SF-36, một trong những công cụ được sử dụng rộng rãi nhất đánh giá CLCS liên quan đến sức khỏe, được công bố năm 1990 bởi sự Dự án đánh giá CLCS quốc tế (IQOLA). SF-36 chứa 36 mục kết họp trong 8 khía cạnh: vai trò the chat (role - physical), chức năng thể chất (physical functioning), đau mỏi cơ the (bodily pain), sức khỏe nói chung (general health), sức ben (vitality), vai trò của cảm xúc (role - emotional), chức năng xã hội (social functioning) và sức khỏe tâm than (mental health), cũng có thể được nhóm lại thành hai thành phần: thể chất và tinh thần. Tuy nhiên, SF-36 chỉ dùng để đánh giá CLCS liên quan đến sức khỏe [37].