ĐẶT VẤN ĐỀ Chất lượng cuộc sống (CLCS) là khái niệm phản ánh nhận thức của một cá nhân về tình trạng cuộc sống hiện tại của bản thân, những nhận thức này gắn liền với mục tiêu, kỳ vọng và những mối quan tâm của họ [44]. Người bệnh sau phẫu thuật đoạn chi là một trong những đối tượng cần chăm sóc một cách đặc biệt để cung cấp cho người bệnh có một sức khỏe toàn diện về thể chất và tinh thần [42]. Ở Hoa Kỳ, khoảng 185.000 trường hợp đoạn chi xảy ra mỗi năm và trong năm 2009, chi phí phục vụ cho điều trị liên quan đến đoạn chi tổng cộng hơn 8,3 tỷ đô la Mỹ [10]. Ước tính sẽ có khoảng 3,6 triệu người ở Hoa Kỳ sống với việc khiếm khuyết chi vào năm 2050 [48],[66].
Thống kê tại các nước đang phát triển, tỉ lệ đoạn chi cao nhất do chấn thương chiếm 55-95%. Bên cạnh đó, các nước phát triển đoạn chi do bệnh mạch máu ngoại biên chiếm 85-90% [45], tỉ lệ cắt cụt ngón chân là 40% hoặc một phần của bàn chân chiếm 25% do bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) [19]. Theo các số liệu trong nước và nước ngoài, tỉ lệ đoạn chi dưới cao hơn so với chi trên và phần lớn nguyên nhân gây ra cho người bệnh đoạn chi dưới là do biến chứng đái tháo đường. Mặc dù phẫu thuật đoạn chi nhằm mục đích cứu sống người bệnh nhưng cũng tác động tiêu cực đến người bệnh.
Đoạn chi gây ra những tác động nghiêm trọng cho các cá nhân và gia đình của họ về các khía cạnh như tâm lý xã hội, thể chất, chức năng và tài chính. Đoạn chi ảnh hưởng đến khả năng làm việc của cá nhân con người trong công việc, duy trì các mối quan hệ xã hội, tham gia các hoạt động giải trí và hoạt động của cộng đồng [41]. Do đó, người bệnh sẽ có cảm giác tự ti với bản thân và xã hội, chất lượng cuộc sống sẽ giảm sút vì họ không thể hành động như bình thường khi có những thay đổi bất thường về hình ảnh cơ thể. Wald tranh luận rằng các phương pháp trị liệu cho người bệnh sau đoạn chi là những điều cần thiết để phục hồi các vấn đề về thể chất và tâm lý phức tạp [57].
Khi người bệnh không thể tự mình di chuyển hoặc tự phục vụ bản thân, họ có thể nghĩ mình là gánh nặng cho gia đình và xã hội, điều đó có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của bản thân [58]. Những thay đổi về thể chất và tâm lý xã hội thường. gặp ở những người bệnh sau phẫu thuật đoạn chi đôi khi rất khó đánh giá. Tâm lý người bệnh thường đi kèm nhiều tâm trạng và cảm giác có thể tức giận, đau đớn, khóc lóc,… để thể hiện sự mất mát và đau buồn.
Do đó, các nhân viên y tế cần phải tạo ra môi trường thân thiện và hỗ trợ giúp người bệnh bày tỏ cảm xúc và đối phó với nỗi đau. Ngoài ra, sự hỗ trợ của thành viên trong gia đình cũng đóng vai trò quan trọng và giúp thúc đẩy cuộc sống của người bệnh thay đổi tích cực hơn [40]. Hiện nay ở Việt Nam chưa có nhiều sự quan tâm về vấn đề CLCS của người bệnh sau đoạn chi để hướng đến một cuộc sống toàn diện. Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật đoạn chi” để hiểu rõ thêm về những vấn đề liên quan tới thể chất và tinh thần của người bệnh.
Từ đó, nhằm củng cố lại những hướng dẫn, chăm sóc của điều dưỡng để mang lại cho người bệnh một chất lượng cuộc sống tích cực và phù hợp hơn. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ❖ Câu hỏi nghiên cứu: Người bệnh sau phẫu thuật đoạn chi có chất lượng cuộc sống như thế nào? ❖ Mục tiêu cụ thể: - Xác định tỉ lệ các loại đoạn chi. - Đánh giá chất lượng cuộc sống của người bệnh sau phẫu thuật đoạn chi dựa trên thang đo SF-36. - Xác định mối liên quan giữa các thành phần điểm số chất lượng cuộc sống với các đặc điểm của người bệnh.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan đoạn chi 1.1 Định nghĩa đoạn chi Đoạn chi là việc cắt bỏ chi do chấn thương, do bệnh nội khoa hoặc phẫu thuật. Phẫu thuật đoạn chi là một biện pháp phẫu thuật, cắt và tạo lại đoạn chi bị tổn thương không còn khả năng bảo tồn nhằm cứu sống người bệnh và tạo mỏm cụt thích hợp cho lắp chi giả sau này[2]. Đoạn chi còn được sử dụng để kiểm soát cơn đau hoặc quá trình bệnh ở chi bị ảnh hưởng, chẳng hạn như ung thư hoặc hoại thư. Đoạn chi dẫn đến một khuyết tật vĩnh viễn, mang lại một sự thay đổi mạnh mẽ trong cuộc sống và chức năng của một cá nhân [19].
Nhiều tác giả định nghĩa đoạn chi là thủ thuật nhằm mục đích cắt bỏ đi một phần hoặc toàn bộ chi của cơ thể [7],[18]. Nếu đường cắt đi qua xương gọi là cắt cụt thực thụ, nếu đường cắt đi ngang qua khe khớp gọi là tháo khớp [1]. Mục đích của đoạn chi không chỉ là sự cắt bỏ phần chi bị tổn thương mà còn thể hiện sự phục hồi chức năng của phần chi còn lại. Dựa theo tình hình của hàng vạn người lính trẻ bị đoạn chi do hậu quả chiến tranh gây ra sau đại chiến thế giới thứ II, đoạn chi đã có nhiều tiến bộ về mặt kỹ thuật [47].
Những tiến bộ trên nhiều lĩnh vực đã đưa phẫu thuật đoạn chi thành một chuyên khoa lớn dựa trên các kỹ thuật tạo hình cơ – xương, các nguyên tắc cơ học trong vận động cơ thể. Đoạn chi không còn là phẫu thuật đơn thuần mà đã trở thành một chuyên nghành có nguyên lý điều trị, theo dõi và đánh giá riêng biệt. Trong đó luôn luôn có sự phối hợp của nhiều lĩnh vực như chấn thương chỉnh hình, phục hồi chức năng và tâm lý trị liệu [12],[47]. Từ đó, ngành khoa học sức khỏe đã sáng tạo ra các loại chi giả và nâng cao việc đo lường được khả năng tiêu hao sức lực khi sử dụng chi giả của người bệnh.
Năm 1963 tại hội nghị chi giả lần thứ VI ở Copenhagen, Weliss (Ba Lan) đã đề nghị sử dụng chi giả sau cắt cụt mà không chờ đến khi lành vết thương [52]. Các tiến bộ trên đã đưa đến kết quả thành công là giảm được số lần phẫu thuật lại để sửa lại các mỏm cụt giúp người bệnh đoạn chi có một cuộc sống sinh hoạt gần như bình thường trong một thời gian ngắn. Các nguyên nhân đoạn chi bao gồm: - Tai nạn giao thông, tai nạn sinh hoạt hoặc các vết thương hỏa khí. Chấn thương do tai nạn chiếm khoảng 45% trong tổng số các ca đoạn chi [33].
Một bộ phận cơ thể có thể bị cắt hoặc rách trong một tai nạn nghiêm trọng hoặc bỏng nặng đến mức không thể cứu được. Các chấn thương làm cắt mạch máu khiến một bộ phận cơ thể không có máu nuôi dưỡng trong thời gian dài cũng có thể gây chết mô cần phải đoạn chi. Một ví dụ là tê cóng, có thể làm hỏng các mạch máu ở ngón tay và ngón chân, cuối cùng phải cắt bỏ chúng. Đoạn chi do chấn thương là một tình huống cực kỳ nguy hiểm và thường đe dọa đến tính mạng con người, đặc biệt là do mất quá nhiều máu.
Nhưng do những tiến bộ của khoa học y tế trong các thế kỷ trước nên triển vọng cứu sống người bệnh đã tăng lên đáng kể. - Biến chứng bệnh mạch máu và đái tháo đường chiếm khoảng 54% tất cả các trường hợp đoạn chi. Các vấn đề mãn tính về mạch máu có thể dẫn đến chết mô ở ngón chân, bàn chân và cẳng chân. Trong số những người bệnh phải đoạn chi do các biến chứng của những căn bệnh này, gần một nửa người bệnh sẽ tử vong trong vòng 5 năm sau khi thực hiện thủ thuật đoạn chi [33].
- Đoạn chi liên quan đến ung thư là phẫu thuật cắt bỏ một bàn tay, bàn chân, cánh tay hoặc chân để ngăn chặn sự lây lan của một số loại ung thư chỉ chiếm ít hơn 2% các trường hợp đoạn chi [20]. Các bệnh ung thư như sarcoma có thể ảnh hưởng đến xương và mô mềm ở các chi. Nếu ung thư quá lớn hoặc quá nguy hiểm để loại bỏ, hoặc di căn lan rộng vào dây thần kinh hoặc mạch máu, thì có thể cần phải đoạn chi. Các bệnh ung thư tiến triển ảnh hưởng đến phần đùi có thể dẫn đến thủ thuật cắt bỏ xương hông, loại bỏ toàn bộ xương đùi khỏi xương chậu.
- Đoạn chi do nhiễm trùng thông thường là nhiễm trùng huyết có thể ảnh hưởng đến lưu lượng máu và khiến mô chết, đặc biệt là ở ngón chân, ngón tay, bàn tay và bàn chân. Nhiễm trùng huyết nặng có thể gây chết người nếu thuốc kháng sinh không thể kiểm soát nhiễm trùng. Một nguyên nhân gây nhiễm trùng huyết là vi khuẩn não mô cầu, gây ra một dạng viêm màng não nghiêm trọng. Tụ cầu vàng kháng methicillin.
(MRSA) là một loại vi khuẩn, có thể gây ra một tình trạng nhiễm trùng mô mềm hoại tử. Đối với những trường hợp nhiễm trùng nguy hiểm này chỉ xảy ra ở một bộ phận cơ thể như chi trên hoặc chi dưới thì việc đoạn chi có thể là cần thiết để cứu sống người bệnh [40]. - Dị tật bẩm sinh: đây không phải là một thủ thuật, mà là một thuật ngữ đề cập đến bàn tay, bàn chân, cánh tay hoặc chân bị thiếu hoặc không được hình thành hoàn chỉnh khi sinh ra [59]. Những đứa trẻ bị đoạn chi bẩm sinh có thể được phẫu thuật sau này hoặc được lắp chân tay giả nếu đứa trẻ hoặc cha mẹ và đội ngũ chăm sóc xác định rằng sự can thiệp đó có thể cải thiện chức năng và sức khỏe của đứa trẻ.
Đoạn chi có nhiều nguyên nhân, nhưng chiếm đa số về đoạn chi dưới thường là kết quả của hội chứng bàn chân đái tháo đường.2 Mức đoạn chi Phương pháp phẫu thuật đoạn chi phụ thuộc vào bộ phận cơ thể bị cơ thể bị ảnh hưởng, lý do đoạn chi và mức độ tổn thương xương và mô. Cắt cụt ngón tay có thể là một thủ thuật nhỏ nhưng phức tạp, gắn kết với da, gân và dây thần kinh để cho phép thực hiện chức năng vận động tốt và sử dụng bàn tay một cách tối ưu. Việc cắt bỏ một cánh tay hoặc chân có thể là một cuộc phẫu thuật lớn, đòi hỏi kỹ năng xử lý và ổn định tất cả các mô khác nhau của bộ phận cơ thể bao gồm da, mạch máu, cơ, dây thần kinh, gân và xương.