ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay cùng với sự lão hóa của dân số toàn cầu thì các bệnh lý ở khớp háng gặp ngày càng nhiều, trong đó gãy cổ xƣơng đùi (GCXĐ) và thoái hóa khớp háng là những bệnh hay gặp nhất. Theo một thống kê ở Mỹ năm 2007 thì 90% trong tổng số 250.000 ngƣời bệnh GCXĐ ở độ tuổi trên 60, chi phí điều trị lên đến 10 tỷ Đôla [31]. Cũng một thống kê khác ở Mỹ, tỷ lệ ngƣời mắc bệnh thoái hóa khớp háng từ 80 đến 150 ngƣời/100. Ở Úc có hơn 16000 ngƣời bệnh GCXĐ bị loãng xƣơng (Tỷ lệ 175 trên 100.000 dân) trong đó nữ giới bị GCXĐ chiếm 3/ 4 so với nam giới [21].
Tỷ lệ ngƣời bệnh GCXĐ tỷ lệ thuận với tuổi, tuổi càng cao thì nguy cơ GCXĐ càng lớn, tỷ lệ GCXĐ tăng lên đáng kể ở lứa tuổi trên 70 [4] [8] [14]. Hiện nay ở Việt Nam rất tiếc là chƣa có thống kê chính thức về vấn đề này. Phẫu thuật thay khớp háng (PTTKH) là chỉ định tối ƣu cho những ngƣời bệnh bị chấn thƣơng hay mắc bệnh lý ở chỏm hoặc cổ xƣơng đùi mà mọi phƣơng pháp điều trị nhƣ kết hợp xƣơng cho bệnh GCXĐ hay điều trị nội khoa cho thoái hóa khớp háng mà không đạt kết quả. Cuộc sống và chất lƣợng sống của những ngƣời bệnh này bị ảnh hƣởng trầm trọng do bị mất hoặc giảm chức năng vận động, đau triền miên hoặc rất đau khi bị GCXĐ và phải phụ thuộc vào thuốc giảm đau [18].
Ngoài ra mọi sinh hoạt cá nhân của họ đều phải phụ thuộc vào ngƣời khác, tinh thần lo lắng, mệt mỏi, sức khỏe giảm sút và chi phí cho điều trị, chăm sóc cũng rất tốn kém. Mặt khác khi đƣợc khám và có chỉ định phẫu thuật rất nhiều ngƣời bệnh, nhất là ngƣời già và gia đình còn e ngại và lo sợ sau phẫu thuật chƣa chắc đã hồi phục và đi lại đƣợc, nhiều ngƣời cam chịu sống với bệnh tới cuối đời. Tại viện Chấn thƣơng Chỉnh hình Bệnh viện Việt Đức hàng năm phẫu thuật khoảng gần 500 ca thay khớp háng [1]. Kỹ thuật thay khớp háng đƣợc thực hiện theo hai phƣơng pháp: Thay khớp háng toàn phần cho những ngƣời bệnh tuổi còn trẻ và khả năng vận động tốt hơn ngƣời cao tuổi và thay khớp háng bán phần dành cho những ngƣời bệnh cao tuổi [4].
Các phẫu thuật viên (PTV) quan tâm và nghiên cứu khá nhiều về kỹ thuật - phƣơng pháp - kết quả sau PTTKH. Tuy nhiên nghiên 2 cứu về chất lƣợng cuộc sống ( CLCS) của ngƣời bệnh lại chƣa đƣợc thực hiện nhiều ở Việt Nam nói chung và hầu nhƣ chƣa có ở bệnh viện Việt Đức (BVVĐ) nói riêng. Trong khi đó trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu đánh giá sự thay đổi CLCS của ngƣời bệnh sau điều trị mắc các bệnh khác nhau nhƣ là ung thƣ, HIV hay sau phẫu thuật ghép tạng, thay khớp háng, thay khớp gối nhƣ Veljko Santie (2012) thực hiện tại Croatia đánh giá CLCS cho 74 ngƣời bệnh sau PTTKH bằng bộ công cụ SF36, kết quả có sự cải thiện đáng kể CLCS sau 01 năm kể từ khi phẫu thuật [20] [23]. Nghiên cứu CLCS của ngƣời bệnh trƣớc và sau PTTKH là rất quan trọng để đƣa ra những bằng chứng cụ thể với mục đích: (1) Giúp cho ngƣời bệnh và bác sỹ lựa chọn những quyết định phù hợp cho điều trị; (2) Đánh giá đƣợc hiệu quả sau phẫu thuật và chăm sóc ngƣời bệnh; (3) Xác định những biện pháp hỗ trợ cho điều trị, phục hồi chức năng và chăm sóc cho ngƣời bệnh PTTKH.
Từ những lý do trên chúng tôi đã tiến hành đề tài này nhằm đánh giá sự thay đổi về CLCS của ngƣời bệnh trƣớc và sau PTTKH tại viện Chấn thƣơng Chỉnh hình Bệnh viện Việt Đức và tìm hiểu một số yếu tố liên quan. Nghiên cứu này sẽ cung cấp những bằng chứng mới, cụ thể và khoa học làm cơ sở để đƣa ra những đề xuất hƣớng đến cải thiện chất lƣợng trong điều trị và chăm sóc ngƣời bệnh thay khớp háng tại bệnh viện Việt Đức nói riêng và các bệnh viện khác có thực hiện PTTKH nói chung. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả sự thay đổi chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh trƣớc và sau phẫu thuật thay khớp háng tại viện Chấn thƣơng Chỉnh hình bệnh viện Việt Đức năm 2014.
Xác định một số yếu tố liên quan tới sự thay đổi chất lƣợng cuộc sống của ngƣời bệnh trƣớc và sau phẫu thuật thay khớp háng tại viện Chấn thƣơng Chỉnh hình bệnh viện Việt Đức năm 2014. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số thông tin cơ bản về phẫu thuật thay khớp háng 1.1 Khái niệm phẫu thuật thay khớp háng Thay khớp háng là phẫu thuật nhằm lấy đi phần xƣơng, sụn của khớp bị hƣ bao gồm phần chỏm xƣơng đùi và phần ổ cối của xƣơng chậu, sau đó thay bằng phần khớp nhân tạo tƣơng ứng nhằm mục đích phục hồi chức năng vận động cho ngƣời bệnh, giảm hoặc hết đau, tránh đƣợc những biến chứng do nằm tại chỗ nhƣ viêm phổi, loét tƣ thế, suy sụp toàn thân, sạn thận. và cuối cùng là cải thiện chất lƣợng cuộc sống cho ngƣời bệnh [4] [7].2 Chỉ định cho thay khớp háng Những ngƣời bệnh có tổn thƣơng khớp háng làm giảm và mất vận động, gây đau đớn mà mọi điều trị và chăm sóc khác (Phƣơng pháp bất động bằng bột, kết hợp xƣơng cho bệnh GCXĐ hay điều trị nội khoa cho bệnh thoái hóa khớp háng) không thuyên giảm, hay gặp ở những bệnh sau: - Viêm thoái hóa khớp háng - Viêm khớp dạng thấp - Hoại tử chỏm xƣơng đùi - Gãy chỏm hoặc cổ xƣơng đùi - Chấn thƣơng gây biến dạng ổ cối - Khối u xƣơng của chỏm và cổ xƣơng đùi 1.3 Các phƣơng pháp thay khớp háng 1.1 Thay khớp háng bán phần Là phƣơng pháp thay chỏm, cổ xƣơng đùi bằng vật liệu nhân tạo thay thế và giữ lại ổ cối (Phƣơng pháp này hay dùng cho bệnh nhân >70 tuổi) [4] [7].
a) Ƣu điểm: - Ngƣời bệnh có thể vận động sớm ngay sau phẫu thuật, có thể đi lại sớm mà không cần phải chờ thời gian liền xƣơng, điều này rất có ý nghĩa đối với ngƣời bệnh cao tuổi tránh đƣợc những biến chứng nằm bất động lâu ngày. 5 - Tránh đƣợc những biến chứng không liền xƣơng, hoại tử chỏm và những thất bại của kết hợp xƣơng vì là khớp nhân tạo. b) Nhƣợc điểm: - Mặc dù chức năng sau thay khớp háng bán phần (TKHBP) khá tốt nhƣng không bao giờ thay thế đƣợc chức năng vận động chỏm xƣơng đùi của chính bản thân ngƣời bệnh - TKHBP có phạm vi chỉ định hạn chế (Ngƣời bệnh >70 tuổi). - Ngoài ra sau một thời gian sử dụng, TKHBP bộc lộ một số yếu điểm và biến chứng nhƣ mòn ổ cối, lỏng cán chỏm, trật chỏm, đau, nhiễm khuẩn.2 Thay khớp háng toàn phần Là phƣơng pháp phẫu thuật thay thế toàn bộ chỏm, cổ xƣơng đùi và ổ cối bằng dụng cụ nhân tạo (Phƣơng pháp này hay dùng cho những ngƣời còn trẻ và những ngƣời có độ tuổi <70) [4] [7].
a) Ƣu điểm: - Ngƣời bệnh có thể vận động sớm ngay sau phẫu thuật - Tránh đƣợc biến chứng mòn ổ cối b) Nhƣợc điểm: - Thời gian phẫu thuật có thể kéo dài, mất nhiều máu - Vẫn còn có thể có một số biến chứng nhƣ lỏng cán chỏm, gãy xƣơng ổ cối quanh khớp, trật khớp, đau, nhiễm khuẩn.4 Một số biến chứng sau phẫu thuật thay khớp háng 1.1 Biến chứng sớm sau phẫu thuật Trật khớp nhân tạo (KNT) sớm sau mổ: có thể gặp sớm sau PTTKH, thƣờng xảy ra trong vòng 3 tuần đầu sau mổ. Nguyên nhân có thể do phẫu thuật viên (PTV) đặt KNT không đúng vị trí, khối cơ mông yếu, tƣ thế của khớp háng. hay nguyên nhân chủ quan trong khâu vận chuyển ngƣời bệnh hoặc từ phía ngƣời bệnh vận động sai tƣ thế. Điều trị trật KNT bằng cách gây mê để nắn, một số trƣờng hợp khó phải mổ đặt lại khớp.
Chảy máu sau mổ: nguyên nhân do sơ suất trong quá trình phẫu thuật, phạm vào những mạch máu quanh khớp háng hoặc gặp ở những ngƣời bệnh có yếu tố 6 nguy cơ gây rối loạn đông máu. Trong những trƣờng hợp này nếu nhẹ có thể gây ứ đọng dịch trong vết mổ nguy cơ nhiễm khuẩn, nặng hơn mất máu nhiều có thể nguy hiểm đến tính mạng nếu không cầm máu và hồi phục kịp thời. Nhiễm khuẩn: đƣợc chia ra làm 2 loại nhiễm khuẩn nông và nhiễm khuẩn sâu - Nhiễm khuẩn nông: sau mổ ngƣời bệnh có sốt cao, sƣng, nóng, đỏ, đau vùng mổ. Tại chỗ vết mổ viêm tấy, nề, ứ đọng dịch và mủ.
Điều trị bằng cách mở rộng vết mổ, dẫn lƣu dịch, mủ và dùng kháng sinh theo kháng sinh đồ. - Nhiễm khuẩn sâu: Xuất hiện muộn bởi triệu chứng nghèo nàn, có dò dịch và mủ, chẩn đoán dựa vào các phƣơng tiện chẩn đoán hình ảnh. Điều trị rất khó khăn phức tạp, rất khó khăn để kháng sinh xâm nhập vào vùng nhiễm khuẩn [4] [7].2 Biến chứng xa sau phẫu thuật Lỏng khớp nhân tạo: Là hậu quả của nhiều phản ứng xảy ra giữa KNT và tổ chức xung quanh, lớp xƣơng xung quanh ổ cối và chuôi bị tiêu hủy làm cho KNT không còn chắc chắn nhƣ ban đầu. Chẩn đoán trên lâm sàng gặp khó khăn do triệu chứng nghèo nàn, dễ nhầm với các bệnh lý khớp háng đã gặp trƣớc đó.
Ngƣời bệnh thấy đau háng, dọc xƣơng đùi hoặc đầu gối, đau tăng lên khi vận động nhiều, có thể có ngắn chi làm chongƣời bệnh đi khập khiễng. Đau khớp háng và dọc xƣơng đùi: Là hậu quả của triệu chứng đau trƣớc đây mang lại, ở ngƣời GCXĐ có bệnh lý khớp háng kèm theo, đau là biểu hiện xuyên suốt quá trình tiến triển trƣớc đây của bệnh. Các tổn thƣơng viêm mạn tính, thoái hóa khớp kéo dài gây ra những thay đổi tại khớp và quanh khớp cũng gây đau cho ngƣời bệnh. Tiêu xƣơng quanh khớp: Sự tồn tại của KNT làm thay đổi hiện tƣợng sinh lý, sinh cơ học của khớp có thể gây ra thay đổi tại chỗ là tiêu xƣơng quanh KNT.
Đây cũng là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến tình trạng lỏng KNT. Cốt hóa lạc chỗ: Là hiện tƣợng tạo xƣơng bất thƣờng trong phần mềm quanh ổ khớp sau thay KNT. Do các mảnh xƣơng vụn bắn ra xung quanh trong quá trình phẫu thuật không đƣợc bơm rửa sạch, lẫn vào phần mềm xung quanh và phát triển. Nếu ở mức độ nặng sẽ gây đau cho ngƣời bệnh, nặng hơn nữa có thể làm cản trở tầm vận động của khớp [4] [7].2 Chất lƣợng cuộc sống 1.