Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương mại Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông 7 nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay tiêu dùng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc 8 ƢƠ 1: Ơ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤ LƢỢNG CHO VAY TIÊU DÙNG T I ƢƠ I 1. Hoạt đ ng cho vay tiêu dùng của ngân h ng thƣơng mại 1. Khái niệm và đặc điểm của cho vay tiêu dùng 1. Khái niệm cho vay tiêu dùng Theo giáo trình Nguyên lý và nghiệp vụ NHTM- NXB thống kê thì cho vay tiêu dùng là một hình thức tín dụng, qua đó ngân hàng cho hách hàng là cá nhân hay hộ gia đình vay một lượng tiền nhất định để mua hàng hóa hay dịch vụ sử dụng vào mục đích tiêu dùng.
Vay tiêu dùng là nguồn tài chính quan trọng giúp cá nhân và hộ gia đình trang trải nhu cầu về nhà ở, mua sắm phương tiện đi lại, đồ dùng gia đình,.mà hông phục vụ trực tiếp cho mục đích sản xuất kinh doanh. Trên thực tế, thời điểm phát sinh nhu cầu tiêu dùng và thời điểm có khả năng thanh toán không phải lúc nào cũng hớp nhau, hơn nữa người tiêu dùng cũng cần phải tích lũy năng lực tài chính trong một thời gian nhất định. Trong hi đó doanh nghiệp sản xuất lại không thể bán chịu hàng hóa cho người tiêu dùng. Đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng và doanh nghiệp, hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng thương mại đã ra đời và phát triển như ngày nay.
Đặc điểm cho vay tiêu dùng Theo Nguyễn Đăng Dờn (2014), CVTD có những đặc điểm sau: - Đặc điểm về hách hàng vay: Khách hàng mục tiêu của N TM đối với CVTD là các cá nhân và hộ gia đình. Đối tượng của CVTD rất đa dạng, bên cạnh đó mức thu nhập và trình độ dân trí cũng có tác động rất lớn đến việc sử dụng các hoản tiền vay của người tiêu dùng. Có thể hái quát thành các nhóm đối tượng hách hàng vay như sau: (i) Nhóm đối tượng có thu nhập thấp: Những người có thu nhập thấp thì thông thường nhu cầu vay để tiêu dùng hông cao và bị giới hạn bởi thu nhập, việc vay vốn chỉ nhằm cân đối giữa thu nhập và chi tiêu. (ii) Nhóm đối tượng có thu nhập trung bình: Nhóm đối tượng này muốn vay để tiêu dùng hơn là dùng chính tiền tích luỹ, dự phòng của mình để chi tiêu.
Do đó nhóm đối tượng này có nhu cầu vay vốn tăng mạnh so với nhóm đối tượng có thu nhập thấp. (iii) Nhóm 9 đối tượng có thu nhập cao: Nhóm đối tượng này vay tiêu dùng nhằm tăng hả năng thanh toán và coi đó như một hoản linh hoạt để chi tiêu hi mà tiền tích luỹ của họ chưa cao hay lợi nhuận do đầu tư mang lại chưa thu được. Đây là nhóm đối tượng có những hoản tiêu dùng lớn và thường xuyên. Vì vậy các N TM cần dùng những biện pháp thích hợp để tiếp cận và mở rộng nhóm đối tượng này.
- Đặc điểm về mục đích vay: nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân, hộ gia đình như: mua nhà, xây dựng, sửa chữa nhà ở, mua sắm vật dụng gia đình, du học… hông phải mục đích inh doanh. - Đặc điểm về quy mô hoản vay: Các hách hàng hi tìm đến ngân hàng nhằm mục đích vay tiêu dùng thường có nhu cầu vốn hông lớn. Đó là bởi hi xác định mua sắm bất cứ vật dụng gì người tiêu dùng đã phải có một hoản tích luỹ từ trước và các nhu cầu chi tiêu cho tiêu dùng thường hông quá đắt đỏ, ể cả hi người tiêu dùng vay để mua nhà, xây nhà hoặc sửa chữa nhà để ở thì qui mô các hoản đó cũng hông quá lớn đối với một ngân hàng. Tuy vậy, số lượng các hoản vay tiêu dùng lại há phổ biến, đa dạng và chiếm tỷ trọng hông nhỏ do đối tượng của CVTD là mọi tầng lớp dân cư trong xã hội và có nhu cầu vay vốn thường xuyên nên mặc dù mỗi món vay tiêu dùng có quy mô nhỏ nhưng số lượng các hoản vay lớn hiến cho tổng quy mô CVTD của các ngân hàng thường há lớn.
- Đặc điểm về thời hạn vay: Các hoản vay tiêu dùng thường có thời hạn dài do nguồn trả nợ chủ yếu từ thu nhập hàng tháng của người vay. - Đặc điểm về lãi suất cho vay: Không như hầu hết các hoản vay inh doanh hiện nay lãi suất có thể thay đổi theo điều iện thị trường, các hoản vay tiêu dùng thường có lãi suất ở một mức cố định, đặc biệt là trong CVTD trả góp. Ngay hi quan hệ tín dụng được xác lập thì mức lãi suất đã được đưa ra và duy trì trong suốt thời hạn vay ( ể cả có thay đổi lãi suất thì việc thay đổi đó cũng được qui định ngay trong hợp đồng tín dụng hi ý ết và cũng chỉ được thay đổi định ỳ). Vì vậy hi đưa ra mức lãi suất cho vay cố định này các ngân hàng sẽ phải dự tính đến các yếu tố: lãi suất huy động đầu vào có xu hướng thay đổi như thế nào; phần bù rủi ro và chi phí.
Tuy qui mô mỗi hoản vay nhỏ nhưng số lượng các hoản vay lớn nên 10 tổng chi phí lớn, bên cạnh đó CVTD còn được xem là tiềm ẩn nhiều rủi ro nên phần bù rủi ro cũng há cao. Vì thế, lãi suất CVTD thường cao và cố định. - CVTD có tính nhạy cảm theo chu ỳ: Do số lượng các hoản CVTD phụ thuộc vào nhu cầu tiêu dùng của dân cư và hả năng thanh toán của họ nên nó có tính nhạy cảm theo chu ỳ. Số lượng các hoản CVTD sẽ tăng lên trong thời ỳ inh tế phát triển vì lúc này người dân có mức thu nhập tương đối cao và ổn định, tình hình inh tế xã hội lạc quan.
Ngược lại, trong thời ỳ nền inh tế suy thoái, rất nhiều cá nhân và hộ gia đình sẽ cảm thấy hông tin tưởng vào tương lai, nhất là hi họ thấy thu nhập giảm xuống. Vì vậy, mọi người có xu hướng tiết iệm hơn là tiêu dùng, do đó việc vay ngân hàng nói chung và vay tiêu dùng nói riêng sẽ hạn chế, làm cho số lượng các hoản CVTD giảm xuống trầm trọng. - Đặc điểm về nguồn trả nợ: ầu hết nguồn tài chính trả cho các hoản CVTD hông phải từ ết quả của việc sử dụng những hoản tiền vay đó, nói cách hác việc sử dụng tiền của người vay hông trực tiếp là nguồn trả nợ. Nguồn trả nợ của hoản vay từ thu nhập của người vay, đó có thể là lương, thu nhập từ hoạt động inh doanh, các nguồn thu nhập hác… Khi các nhu cầu tiêu dùng được đáp ứng bằng hoản tiền vay sẽ tạo tâm lý tiết iệm, tăng động lực làm việc của hách hàng.
Đây là ý nghĩa gián tiếp của vay tiêu dùng ảnh hưởng đến thu nhập (là nguồn trả nợ) của người vay. - Đặc điểm về chi phí quản lý hoản vay tiêu dùng lớn: Các ngân hàng thường phải tốn nhiều thời gian và nhân lực để điều tra, thu thập các thông tin về chủ thể vay vốn trước hi đưa ra các quyết định phê duyệt hoản vay, thêm vào đó, việc quản lý các hoản vay tiêu dùng với giá trị nhỏ nhưng số lượng lớn cũng hông phải là một vấn đề đơn giản đối với các N TM nên chi phí tính trên một đơn vị tiền tệ CVTD cao hơn so với các loại hình cho vay hác. - Rủi ro trong cho vay tiêu dùng thường cao do tình hình tài chính của cá nhân, hộ gia đình có thể thay đổi nhanh chóng tuỳ theo tình trạng công việc hay sức hoẻ của họ. CVTD chịu tác động của các yếu tố hách quan như thiên tai, bệnh tật, mất mùa, thất nghiệp và chu ỳ inh tế.
Thời ỳ nền inh tế mở rộng và mọi người 11 dân đều lạc quan tin tưởng vào tương lai thì nhu cầu tiêu dùng sẽ tăng lên nhưng hi nền inh tế suy thoái, các cá nhân, hộ gia đình thường có tư tưởng phòng bị cho tương lai, họ sẽ hạn chế tiêu dùng và tăng cường tích luỹ. Đây là thời ỳ hó hăn cho các nhà sản xuất và các ngân hàng trong phát triển các sản phẩm, dịch vụ. Ngoài ra, CVTD còn chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố chủ quan từ phía người tiêu dùng hi họ muốn vay mượn để chi tiêu nhưng hông muốn trả. Tuy nhiên, hầu hết các hoản CVTD đều có tài sản bảo đảm (TSĐB) và mức cho vay thường thấp hơn một mức quy định so với giá trị TSĐB được ngân hàng định giá.
Do vậy, nếu rủi ro xảy ra, ngân hàng vẫn có thể thu hồi được nợ, dù thời gian có thể éo dài hơn và thủ tục phức tạp hơn. Một loại rủi ro hác ngân hàng có thể phải đối mặt là rủi ro lãi suất hi chi phí huy động tăng lên do các hoản vay tiêu dùng thường có lãi suất “cứng nhắc” (đặc biệt là cho vay trả góp). Việc thẩm định và quyết định cho vay đối với các hoản CVTD thường gặp hó hăn do vấn đề thông tin hông đầy đủ. Các thông tin của cá nhân thường hông rõ ràng và minh bạch như báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
Trong hi doanh nghiệp có các báo cáo tài chính được iểm toán thì hách hàng cá nhân và hộ gia đình có thể dễ dàng giữ ín các thông tin về triển vọng công việc cũng như tình hình sức hoẻ của mình. - Lợi nhuận từ CVTD: Do rủi ro và chi phí CVTD lớn nên các ngân hàng thường đặt mức lãi suất cao đối với các hoản CVTD. Việc đặt ra mức lãi suất CVTD phải đáp ứng được mức lợi nhuận dự iến và cả phần bù rủi ro. Mức lãi suất này thường được đưa ra cao đến mức mà chi phí và tỷ lệ tổn thất phải tăng lên đáng ể thì các hoản CVTD mới hông mang lại lợi nhuận và hiệu quả cho ngân hàng.
Ngoài ra, các ngân hàng nắm bắt tâm lý của người tiêu dùng hi vay tiền thường ém nhạy cảm với lãi suất mà thường quan tâm nhiều hơn tới hoản tiền họ phải trả hàng tháng (mặc dù rõ ràng là lãi suất ghi trên hợp đồng ảnh hưởng đến qui mô số tiền phải trả).