Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn của NHTM Chương 2: Thực trạng chất lượng cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tạiAgribank Chi nhánh huyện Sông Hinh Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôntại Agribank Chi nhánh huyện Sông Hinh. 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG CHO VAY LĨNH VỰC NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về cho vay lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng Ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính có vai trò vô cùng quan trọng trong việc điều tiết dòng tiền đối với nền kinh tế.
Theo luật các tổ chức tín dụng Việt Nam số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010 của Quốc Hội quy định: Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Trong đó, hoạt động ngân hàng bao gồm nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng. Như vậy, Tín dụng ngân hàng có thể được hiểu là một giao dịch tài sản giữa Ngân hàng và với bên đi vay (là các tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế). Trong đó, Ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng với một thời gian nhất định theo thoả thuận.
bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho Ngân hàng khi đến hạn thanh toán. Phân loại tín dụng ngân hàng 1. Căn cứ vào thời hạn tín dụng Tín dụng ngắn hạn: Thời hạn không quá 12 tháng và được sử dụng để cho vay bổ sung vốn lưu động của các doanh nghiệp và yêu cầu thanh toán cho hoạt động cá nhân. Tín dụng trung hạn: Thời hạn trên 12 tháng đến 60 tháng, được dùng cho vay vốn mua sắm tài sản cố định, cải tiến và cho vay xây dựng nhà ở hoặc mua sắm hàng tiêu dùng có giá trị lớn của cá nhân.
Tín dụng dài hạn: Thời hạn trên 60 tháng, dùng để cho vay dự án đầu tư xây dựng mới, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn. Căn cứ vào đối tượng tín dụng Tín dụng vốn lưu động: Được cấp nhằm hình thành vốn lưu động cho các doanh nghiệp hoặc các chủ thể kinh tế khác. Tín dụng vốn cố định: Được cấp nhằm hình thành vốn cố định của các doanh nghiệp hoặc các chủ thể kinh tế khác. Tín dụng này được thực hiện dưới hình thức cho vay trung và dài hạn.
Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn tín dụng Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: Được cấp cho các doanh nghiệp và chủthể kinh tế để tiến hành sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Tín dụng tiêu dùng: Là tín dụng cấp cho các hộ cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như sửa chữa nhà, mua sắm hay các tư liệu tiêu dùng. Căn cứ vào tính chất bảo đảm tiền vay Tín dụng đảm bảo bằng tài sản: Được đảm bảo bằng các loại tài sản của khách hàng, bên bảo lãnh hoặc hình thành từ vốn vay. Tín dụng đảm bảo không bằng tài sản: Được đảm bảo dưới hình thức tín chấp, cho vay theo chỉ định của Chính phủ và hộ nông dân vay vốn và được bảo lãnh từ các tổchức đoàn thể, chính quyền địa phương nơi cư trú.
Căn cứ vào phương thức cho vay Tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận cho vay th eo các phương thức sau: Cho vay trực tiếp từng lần: Là khoản vay tín dụng tiêu dùng để khách hàng có thể sử dụng hàng hóa, dịch vụ trước khi trả trước, từ đó tạo điều kiện để có mức sống cao. Thông thường quy mô khoản vay nhỏ nhưng rủi ro. Nó phụ thuộc vào ý thức trả nợ của khách hàng. Thu thập tư công việc.
Khách hàng vay là cá nhân, hộ gia đình,… Cho vay theo hạn mức: Đây là nghiệp vụ mà ngân hàng sẵn sàng thỏa thuận và cung cấp cho khách hàng theo hạn mức tín dụng, hạn mức tín dụng có thể tính cho cả kỳ và cuối kỳ. Khách hàng cần cho biết rõ mục đích sử dụng tiền vay và 9 giấy tờ chứng từ chứng minh,. Đây là hình thức thuận tiện cho những khách hàng thường xuyên vay vốn tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh. Cho vay thấu chi: Khoản mục này cho phép người đi vay được chi tiêu vượt trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một khoảng thời hạn nhất định và trong một khoảng thời gian xác định.
Khoản vay này được gọi là hạn mức thấu chi, là một hình thức cấp tín dụng cho vay này tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong quá trình thanh toán. Khoản vay này giúp quá trình thanh toán của khách hàng trở nên dễ dàng hơn nhanh chóng và đúng hạn. Hình thức này thường chỉ được sử dụng cho những khách hàng có độ tin cậy cao, có thu nhập thường xuyên và thời gian thuthập ngắn. Cho vay trả góp: Ngân hàng tạo điều kiện cho khách hàng trả góp số tiền gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng theo thỏa thuận.
Nó thường được sử dụng cho các khoản vay trung và dài hạn. Đây là hình thức cho vay có khả năng rủi ro cao do khách hàng thường thế chấp hàng hóa mua trả góp. Khả năng trả nợ phụ thuộc vào thu nhập của khách hàng. Cho vay hợp vốn: Một dự án hay phương án vay vốn của khách hàng của cùng một nhóm NHTM được cấp tín dụng.
Từ đó, ngân hàng đứng đầu đóng vai trò liên kết và phối hợp với các ngân hàng khác. Nguồn vốn này được sử dụng theo điều lệ tổ chức tín dụng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành. Các phương thức tín dụng khác: Các phương thức tín dụng hợp pháp không bị cấm và tuân thủ các quy định quy chế và điều kiện hoạt động kinh doanh của ngân hàng và khách hàng. Vai trò của tín dụng ngân hàng gắn với phát triển nông nghiệp, nông thôn Tín dụng nông nghiệp có vai trò và có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế của những quốc gia nông nghiệp.
Bởi lẽ, hiện nay các nước có ngành trồng trọt phải đối mặt với áp lực nhất quán từ cạnh tranh toàn cầu. Các sản phẩm như lúa mì, ngô và đậu nành có xu hướng giống nhau ở các địa điểm khác nhau, 10 khiến chúng trở thành hàng hóa. Cạnh tranh duy trì đòi hỏi các doanh nghiệp nông nghiệp hoạt động hiệu quả hơn, có thể đòi hỏi đầu tư vào công nghệ mới, cách bón phân và tưới nước mới cho cây trồng, và những cách thức mới để kết nối với thị trường toàn cầu. Giá nông sản toàn cầu có thể thay đổi nhanh chóng, khiến việc lập kế hoạch sản xuất trở thành một hoạt động phức tạp.
Nông dân cũng có thể phải đối mặt với việc giảm diện tích đất sử dụng khi các khu vực ngoại ô và thành thị di chuyển vào khu vực của họ. Cũng giống như bất kỳ ngành nào khác, nhiều doanh nhân trong ngành nông nghiệp cũng nhận thấy cần phải đa dạng hóa để tối đa hóa lợi nhuận của họ. Vì vậy, người nông dân không thể chỉ trồng một loại hàng hóa hoặc một loại vật nuôi duy nhất. Thay vào đó, họ có thể cần phải suy nghĩ xa hơn các hoạt động hiện có.
Làm như vậy cần phải có vốn. Sự sẵn có của tín dụng nông nghiệp giúp những người vay này thực hiện ước mơ mở rộng sang các lĩnh vực kinh doanh phức tạp hơn. Vì vậy, nó xảy ra rằng, bắt đầu với khoản trả một nửa cho tiền gốc, khoản thế chấp mang bốn xu, đến bốn và một phần trăm., Đó là tỷ lệ thế hệ, toàn bộ khoản nợ sẽ được xóa bỏ trong vòng từ năm mươi sáu mươi năm. Người vay có quyền bất kỳ lúc nào để thanh toán thế chấp, một khoản phạt nhỏ thường được xác định chính xác; nhưng tổ chức cho vay không thể yêu cầu thanh toán từ người nông dân, do đó, đề phòng bất kỳ tỷ lệ tương tác cao hơn nào được xác định chính xác trong suốt thời hạn của khoản vay; trong khi đó, lãi suất giảm, người đi vay có thể đoán trước được số tiền trả của khoản thế chấp và đảm bảo lợi ích của lãi suất thấp hơn.Trường phái Trọng cung cho rằng, tín dụng là đầu vào quan trọng nhất đối với tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo đói.
Tín dụng được coi là công cụ để đạt được mục đích cuối cùng, là phát triển kinh tế. Trong khi đó, trường phái Trọng cầu lại cho rằng, tín dụng là kết quả của sự phát triển kinh tế, và không có bằng chứng hay căn cứ nào chứng minh ảnh hưởng tích cực của phát triển tín dụng lên quá trình tăng trưởng kinh tế về mức độ, thời điểm và khu vực. Vai trò của tín dụng đối với phát triển kinh tế là điều hiển nhiên, nhưng nó không bao giờ được coi là điều kiện đủ. Tín dụng chỉ được coi là một trong rất 11 nhiều điều kiện cần thiết và là trung gian phân bổ nguồn lực cho phát triển.
Trong nền kinh tế thị trường vai trò cuả tín dụng cũng thay đổi về bản chất so với nền kinh tế tập trung trước kia. Tín dụng trong thời kỳ bao cấp được xem như một công cụ cấp phát thay ngân sách. Còn trong nền kinh tế thị trường: Tín dụng là tập trung huy động nhiều nguồn vốn, gắn liền với sử dụng vốn có hiệu quả để đầu tư phát triển kinh tế nông thôn, tạo điều kiện tích luỹ vốn cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tín dụng thực sự là đòn bẩy kinh tế kích thích các ngành kinh tế mũi nhọn phát triển cũng như mở rộng thương mại dịch vụ ở cả thành thị và nông thôn.
Do đó tín dụng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế nông thôn và được thể hiện như: 1. Góp phần thúc đẩy hình thành thị trường tài chính nông thôn. Thị trường tài chính ở nông thôn là nơi giải quyết quan hệ cung cầu về vốn, nhằm thoả mãn nhu cầu phát triển kinh tế nông thôn. Thị trường tài chính nông thôn bao gồm thị trường vốn và thị trường tiền tệ.
Trong thị trường này, ngân hàng nông nghiệp có vai trò vô cùng quan trọng, vì nó có hệ thống chân rết đến tận huyện. Mặt khác từng xã, khu vực còn có quỹ tín dụng nhân dân cơ sở. Chính hoạt động tín dụng đã hình thành và đẩy nhanh sự phát triển của thị trường tài chính, tín dụng ở nông thôn.