Phần mở đầu và Kết luận, đề án được kết cấu thành 3 phần: Phần 1: Cơ sở xây dựng đề án chất lượng cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại. Phần 2: Nội dung chất lượng cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Hà Tây. Phần 3: Các đề xuất và kiến nghị nâng cao chất lượng cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Hà Tây. 6 PHẦN 1: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN CHẤT LƯỢNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Các khái niệm cơ bản về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân Hoạt động tín dụng của NHTM là quá trình cung cấp tiền và tài trợ cho cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức thông qua các sản phẩm và dịch vụ tài chính như vay tiền, cung cấp thẻ tín dụng, tài trợ dự án và các dịch vụ thanh toán; bao gồm việc đánh giá và quản lý rủi ro tín dụng, thu hồi nợ và các hoạt động liên quan đến quản lý tài sản bảo đảm ngân hàng. Trong đó, cho vay là hoạt động chủ yếu nhất.
Theo Đinh Xuân Hạng, Nghiêm Văn Bảy (2014, 63): “Cho vay là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu (Ngân hàng thương mại) sang người sử dụng (người vay – khách hàng) sau một thời gian nhất định lại quay về với lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu”. “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng thương mại giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Khách hàng cá nhân là tất cả các cá nhân có năng lực pháp luật dân sự năng lực hành vi dân sự và chịu sự trách nhiệm theo quy định trước pháp luật theo đó khách hàng cá nhân bao gồm các hộ gia đình cá nhân có nhu cầu vay vốn tại ngân hàng Như vậy ta có thể hiểu rằng cho vay khách hàng cá nhân là hình thức cấp tín dụng theo đó ngân hàng giao cho đối tượng vay là khách hàng cá nhân, hộ gia đình một khoản tiền để sử dụng vào mục đích tiêu dùng hoặc kinh doanh trong thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng thời hạn. Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân Những đặc điểm riêng của cho vay khách hàng cá nhân so với cho vay khách hàng doanh nghiệp, cho vay định chế tài chính tổ chức khác như sau: - Về đối tượng cho vay: Đối tượng cho vay là cá nhân và các hộ gia đình.
Họ thường là những người nông dân, công nhân viên chức, thợ may, cơ khí, sinh viên, 7 chủ cơ sở kinh doanh nhỏ, hộ thủ công nghiệp,. hoặc là đại diện hộ gia đình thay mặt hộ gia đình ký kết các hợp đồng liên qua đến việc vay vốn tại ngân hàng. - Về Mục đích vay và quy mô khoản vay: Mục đích vay vốn của khách hàng cá nhân thường là phục vụ nhu cầu đời sống, khi tích lũy chưa đủ họ tìm đến ngân hàng thương mại để bù đắp những thiếu hụt tại thời điểm đó; hoặc vay vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của một gia đình. Tuy dư nợ của mỗi khoản vay tương đối nhỏ, song với số lượng các món vay rất lớn nên đối tượng khách hàng cá nhân vẫn là tập khách hàng chính mang lại lợi nhuận cho ngân hàng.
Đặc biệt khi các ngân hàng đã và đang tập trung vào phân khúc thị trường bán lẻ. - Rủi ro đối với cho vay khách hàng cá nhân: Đây là mảng cho vay có nhiều rủi ro nhất đối với ngân hàng. Tình hình tài chính đối tượng này dễ thay đổi như công ăn việc làm, thất nghiệp; vấn đề sức khỏe ốm đau, tai nạn… sẽ ít nhiều ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng. Ngoài ra, chủ hộ vay thường là kinh doanh tự phát, chưa được đào tạo bài bản nên năng lực quản lý của họ còn hạn chế không tốt bằng các doanh nghiệp, khó khăn nhất là thất thoát tài chính, kinh doanh lỗ, tiền hàng bị ứ đọng… dẫn đến nguy cơ phá sản.
- Lãi suất cho vay: Từ đặc điểm có mức độ rủi ro và chi phí cao nên lãi suất cho vay khách hàng cá nhân thường lớn lãi suất khoản vay khác tại ngân hàng thương mại. Hơn nữa đối tượng khách hàng cá nhân thường quan tâm đến số tiền khoản vay và thời hạn là bao lâu hơn là vấn đề lãi suất. Phân loại cho vay khách hàng cá nhân Cho vay khách hàng cá nhân của NHTM rất đa dạng với nhiều hình thức khác nhau. Trên thực tế, hoạt động cho vay KHCN thường phân loại theo các tiêu thức sau: Phân loại theo thời hạn cho vay: - Cho vay KHCN ngắn hạn: khoản vay có thời hạn nhỏ hơn hoặc bằng 12 tháng.
Mục đích vay để bổ sung vốn lưu động sản xuất kinh doanh và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các khách hàng cá nhân. - Cho vay KHCN trung hạn: cho vay trung hạn có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng. Mục đích vay chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị trong SXKD, hoặc xây dựng cải tạo các dự án mới có quy mô nhỏ của khách hàng cá nhân phục vụ nhu cầu tiêu dùng đời sống. 8 - Cho vay KHCN dài hạn: là khoản vay có thời hạn trên 60 tháng.
Mục đích vay thường là tài trợ dự án, đầu tư xây dựng nhà ở, mua sắm thiết bị, dây truyền, phương tiện vận tải có quy mô lớn, mua nhà, sửa chữa nhà của khách hàng cá nhân. Phân loại theo mục đích sử dụng vốn: - Cho vay khách hàng cá nhân phục vụ hoạt động SXKD: Đây là loại cho vay đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh của cá nhân, hộ gia đình với mục đích thường là, xây dựng cơ sở sản xuất, mua sắm trang thiết bị sản xuất, hay bổ sung vốn lưu động cho sản xuất kinh doanh. - Cho vay khách hàng cá nhân phục vụ nhu cầu đời sống: là loại cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng phục vụ đời sống sinh hoạt của cá nhân và gia đình khách hàng đó. Các mục đích vay chính là vay mua và sửa chữa nhà ở, đất ở; mua sắm đồ dùng gia đình, phương tiện đi lại.
Phân loại theo hình thức bảo đảm tiền vay: - Cho vay khách hàng cá nhân có tài sản bảo đảm: là loại cho vay mà ngân hàng cho khách hàng vay vốn với điều kiện khách hàng vay phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba; giá trị tài sản được định giá phải đủ đảm bảo cho khoản vay đó. Các bên tham gia phải ký kết hợp đồng đảm bảo theo quy định trước khi ký hợp đồng tín dụng. - Cho vay khách hàng cá nhân không có tài sản bảo đảm: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. Ngân hàng cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng.
Phân loại theo phương thức cho vay: - Cho vay khách hàng cá nhân từng lần: mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng đều phải làm đầy đủ các thủ tục cần thiết từ lập hồ sơ vay, xét duyệt cho vay và ký hợp đồng tín dụng; các khoản vay của khách hàng không liên quan đến nhau. - Cho vay khách hàng cá nhân theo hạn mức: là phương thức cho vay mà ngân hàng xác định và thỏa thuận với khách hàng một hạn mức dư nợ tối đa cho vay và được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định hoặc theo chu kỳ SXKD. Việc thỏa thuận này phải được nêu rõ trong hợp đồng tín dụng. Khách hàng được rút vốn nhiều lần trong phạm vi hạn mức đã ký kết, mỗi lần nhận nợ khách hàng chỉ phải cung cấp những thủ tục đơn giản chứng minh cho lần nhận nợ đó.
Hình thức thường được áp dụng cho các KHCN uy tín và có nhu cầu vay vốn lưu động thường xuyên. 9 - Cho vay khách hàng cá nhân theo hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán: Ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng vượt quá số tiền có trên tài khoản thanh toán của khách hàng một mức thấu chi tối đa, để thực hiện dịch vụ thanh toán trên chính tài khoản thanh toán đó. Mức thấu chi tối đa này được duy trì trong một khoảng thời gian nhiều nhất là 12 tháng. - Cho vay khách hàng cá nhân thông qua phát hành thẻ tín dụng: ngân hàng phát hành thẻ thanh toán cho khách hàng và cho phép họ được sử dụng trong phạm vi hạn mức đã cấp để thanh toán tiền bằng thẻ tại các điểm bán hàng hay rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động.
Khách hàng sẽ thanh toán không lãi suất trong một khoảng thời gian nhất định, thường là 45 ngày. Vai trò hoạt động cho vay khách hàng cá nhân a) Đối với ngân hàng thương mại: Hoạt động cho vay KHCN là một lĩnh vực quan trọng trong việc đa dạng hóa các hoạt động tài chính của ngân hàng, đáp ứng kịp thời nhu cầu mở rộng phát triển của Ngân hàng trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt để giành thị phần như hiện nay. Phát triển cho vay KHCN sẽ giúp hình ảnh của ngân hàng được quảng bá rộng rãi, tạo điều kiện cho ngân hàng trong việc bán chéo sản phẩm dịch vụ ngân hàng như tiền gửi tiết kiệm, thanh toán, phát hành thẻ, dịch vụ ngân hàng điện tử. Với đặc điểm số lượng khách hàng lớn, hạn mức cho vay nhỏ nên hoạt động cho vay khách hàng cá nhân còn góp phần phân tán rủi ro.
Nếu ngân hàng chỉ tập trung cho vay các khách hàng doanh nghiệp với dư nợ lớn, nhưng khi doanh nghiệp này gặp khó khăn không đảm bảo khả năng trả nợ đúng hạn, điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. b) Đối với khách hàng cá nhân: Cho vay khách hàng cá nhân đóng vai trò rất quan trọng đối với cá nhân và hộ gia đình khi họ có nhu cầu vốn để tiêu dùng, sản xuất kinh doanh. Với mục đích tiêu dùng, khách hàng sẽ tự lập kế hoạch tài chính và thực hiện nó một cách có một cách tốt nhất.