ĐẶT VẤN ĐỀ Như nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam là một quốc gia có truyền thống nuôi chó từ xa xưa. Cùng với lịch sử và sự phát triển của con người, con người đã dần thuần hóa chó với nhiều mục đích khác nhau như làm một đội quân trong chiến tranh thời khởi nghĩa Lam Sơn, chăn dắt gia súc, giữ nhà, bảo vệ an ninh quốc phòng,… Với những đức tính tốt đẹp đó, ngày nay chó được con người nuôi là thú cưng như một thành viên trong gia đình. Chính vì chăn nuôi chó với nhiều mục đích đa dạng như vậy mà gần đây đã có rất nhiều giống chó được nhập vào nước ta làm phong phú thêm về số lượng cũng như chủng loại chó. Song song với sự phát triển của ngành chăn nuôi cũng như việc nhập các giống chó ngoại không rõ nguồn gốc đã làm cho tình hình dịch bệnh, mắc bệnh trên đàn chó ngày càng tăng lên và khó kiểm soát hơn.
Chính vì vậy càng thúc đẩy sự phát triển của ngành thú y, đặc biệt là các bác sĩ thú y chuyên nghiên cứu và chăm sóc cho thú cảnh như chó. Trước sự hạn chế của các phương pháp khám chữa bệnh hiện nay, các bệnh viện và phòng khám thú y trên địa bàn Thành phố Việt Trì đã và đang trang bị các trang thiết bị kỹ thuật hiện đại để giúp các bác sĩ thú y chẩn đoán hiệu quả và chính xác các bệnh nội khoa, ngoại khoa, kí sinh trùng, sản khoa, truyền nhiễm,. Việc chẩn đoán các bệnh trên thú cưng ngoài các yếu tố như trình độ chuyên môn, kinh nghiệm lâm sàng thì cần phải có sự hỗ trợ của các trang thiết bị máy móc và khoa học kĩ thuật, trong đó kĩ thuật chẩn đoán hình ảnh bệnh đạt hiệu quả cao như: Siêu âm, chụp X-quang, cắt lớp vi tính,… Sử dụng X-quang để chẩn đoán bệnh đặc biệt hữu dụng trong việc xác định bệnh lý về xương, về các mô mềm và các cơ quan tổ chức nằm ở các vùng của cơ thể. Kĩ thuật chẩn đoán bằng X-quang giữ vai trò quan trọng trong việc xác định chẩn đoán ban đầu của bệnh, như khảo sát ở xoang bụng bằng X-quang giúp phát hiện lồng ruột, tắc ruột, kiểm tra thai… Chính vì vậy, X-quang là phương pháp chẩn đoán được sử dụng rất nhiều trong nhân y và cả lĩnh vực thú y ở nhiều nước trên thế giới.
Ở Việt Nam hiện nay, ứng dụng X-quang vào chẩn đoán các bệnh về xương khớp được sử dụng khá nhiều nhưng về chẩn đoán các bệnh ở các vùng, các 1 xoang vẫn còn hạn chế. Với mục đích tìm hiểu và nâng cao kĩ thuật chẩn đoán bệnh ở chó và mèo bằng phương pháp X-quang, được sự đồng ý của Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, và dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Hữu Nam, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Áp dụng phương pháp X- quang trong chuẩn đoán một số bệnh ở xoang bụng trên thú cảnh”. MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI 1.
Mục đích - Ứng dụng kỹ thuật X-quang trong chẩn đoán bệnh ở một số cơ quan nằm trong xoang bụng của chó. - Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh ở một số cơ quan nằm trong xoang bụng của chó. Yêu cầu của đề tài - Nắm được các kiến thức cơ bản về X-quang, kiến thức về giải phẫu các cơ quan thuộc xoang bụng của chó. - Ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh ở một số cơ quan ở xoang bụng của chó được đưa đến khám và điều trị tại Bệnh viện thú y Việt Trì Pet+.
- Ghi nhận các triệu chứng lâm sàng trên chó mắc bệnh ở một số cơ quan trong xoang bụng của chó. - Ghi nhận hiệu quả của phương pháp chẩn đoán bằng hình ảnh của X-quang. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. SƠ LƯỢC VỀ X-QUANG 2.
Định nghĩa X-quang Theo (Attwood & David, 1999) Thuật ngữ X-quang được sử dụng để chỉ một hình ảnh được tạo ra bởi tia X. Tia X hay X-quang hay tia Rơntgent là một dạng của sóng điện từ mà mắt thường không nhìn thấy được, có bước sóng trong khoảng 0.01nm đến 10nm. Tia X có khả năng đâm xuyên mạnh có tác dụng làm đen kính, làm phát quang một số chất, làm ion hóa không khí và hủy tế bào. Bước sóng của nó ngắn hơn tia tử ngoại nhưng dài hơn tia Gamma.
Căn cứ vào tần số của bước sóng mà tia X được chia làm 2 loại: Tia X-cứng và tia X mềm. - Tia X cứng: Là những tia X có bước sóng từ 0,01nm đến 0,1nm. Vì các bước sóng của tia X cứng tương đương với kích thước của nguyên tử, và có tính đâm xuyên mạnh nên các tia X cứng được sử dụng rộng rãi để nhìn thấy hình ảnh bên trong các vật thể, và thường được dùng để chụp X-quang trong y tế và kiểm tra hành lý tại an ninh sân bay. - Tia X mềm: Là những tia X có bước song 0,1nm đến 1nm.
Tia X mềm có tính đâm xuyên yếu hơn tia X cứng, và dễ bị hấp thụ trong không khí. Lịch sử phát triển của X-quang và ngành chẩn đoán hình ảnh Tia X được giáo sư vật lý lý thuyết thuộc Đại học Würzburg (Đức)- Wilhelm Conrad Röntgen phát hiện ra vào ngày 08 tháng 11 năm 1895 khi ông cho tay vào tấm chiếu của ánh sáng huỳnh quang từ ống Crookes. Với phát minh này, ông nhận được giải thưởng Nobel vào năm 1901. Cho đến nay, tia X đã có được những bước tiến dài trong lĩnh vực chẩn đoán và điều trị y học.
Phim X-quang đầu tiên là tấm kính tráng nhũ tương muối bạc, sau nhiều năm được thay thế bằng phim tráng nhũ tương 2 mặt cảm thụ tia X. Trong thập kỷ từ 1910-1920, hai nhà khoa học là Gustav Bucky (nhà vật lý người Đức) và Hollis E. Potter (bác sĩ người Mĩ) đã cải thiện chất lượng hình ảnh của phim X-quang nhờ xóa được các tia khuếch tán bằng lưới chống mờ. Coolidge & Bowers (1920) đã tạo ra bóng có dương cực quay, tăng tuổi thọ cho bóng X-quang.
3 Những năm 1930, các nhà khoa học đã sử dụng các chất tương phản như Bismuth, các muối Iode, không khí để tăng đối quang cho một số cơ quan trong cơ thể. Giữa thập niên 1930, đã khắc phục các chi tiết nằm ở các độ sâu khác nhau bằng chụp nghiêng, chụp chếch, chụp cắt lớp. Năm 1950, sản xuất ra bóng tăng sáng và tự động hóa chương trình thăm khám ở trong buồng có ánh sáng, truyền hình, quay phim, chụp ảnh. Năm 1958, siêu âm bắt đầu áp dụng khám sản phụ sau đó khám bụng.
Hounsfield, 1970 phát triển phương pháp chụp cắt lớp vi tính (Computed Tomography). Đầu tiên ứng dụng chụp cắt lớp vi tính cho đầu, sọ não sau đó toàn cơ thể. Ngày nay, nhờ kỹ thuật số hóa đã mở ra cho hình ảnh X-quang một hướng mới là X-quang số hóa. Phim thường chuyển thành phim in bằng tia Laser là tiền đề cho môn Chẩn đoán hình ảnh hiện đại ra đời (Trần Thị Hoàng Yến, 2008).
Đáng kể là X quang can thiệp hay X-quang điều trị cho phép xác định chính xác vị trí chọc dò sinh thiết, dẫn lưu các nang, ổ áp xe, tụ dịch, nong mở các động mạch, đặt các Stent, bịt tắc các nhánh mạch máu đang chảy hoặc mạch nuôi cấp máu cho u,. Hình ảnh cộng hưởng từ xuất hiện là một cuộc cách mạng trong chẩn đoán hình ảnh. Đến tháng 11 năm 2003 Lauterbur và Mansfield được giải thưởng Nobel Y học. Hiện nay, ngành Chẩn đoán hình ảnh (Radiology, Diagnostic Imaging, Imagerie Médicale) gồm có những môn học: (1) X-quang thường quy hay quy ước (Conventional Radiology) gồm các kỹ thuật chẩn đoán tiêu dùng tia X từ thời Röntge nứng dụng cho đến nay vẫn có vai trò nhất định trong chẩn đoán hàng ngày.
Hiện nay, X-quang công nghệ số (Computed Radiography) đang được cập nhật nhằm số hoá các hình ảnh X-quang để lưu trữ, xử lí như các ảnh khoa học số khác. (2) Siêu âm hoặc siêu âm cắt lớp (Ultrasound, Sonography, Echographie, Echotomographie) gồm có các kỹ thuật siêu kỳ âm cổ điển và hiện đại, yếu tố vật lý cơ bản là áp dụng sóng siêu âm. Kỹ thuật sử dụng đầu dò phát sóng âm tần số rất cao (trên 20.000Hz) đi xuyên vào cơ thể, tương tác năng lượng, sau đó một phần sóng được phản hồi trở lại và được đầu dò thu nhận rồi chuyển tín hiệu về bộ phận xử lý để cho ra những hình ảnh các cơ quan. Ứng dụng nguyên lý của sóng âm thanh và không bức xạ.
4 (3) Cắt lớp vi tính hoặc cắt lớp điện toán (Computed Tomography Scanner, Tomodensitométrie, Scanographie) được ứng dụng đo tỉ trọng của mô sau khi tia X đi xuyên qua cơ thể, sau đó nhờ phần mềm máy tính thu thập dữ liệu, tái tạo hình ảnh nhờ kỹ thuật số. Phương pháp chụp cắt lớp giúp nâng cao kỹ thuật X-quang và làm tăng độ phân giải không gian, phân giải tương phản, xử lý phần mềm, dựng hình, tái tạo 3 chiều, lưu trữ, truy cập, truyền tải,… (4) Cộng hưởng từ (cộng hưởng bằng hạt nhân, Magnetic Resonance Imaging): Là kỹ thuật tạo ảnh ứng dụng nguyên lý cộng hưởng của từ trường bên ngoài (máy cộng hưởng từ, có bản chất là khối nam châm có từ lực cao) và bên trong (từ trường do cơ thể tạo ra). Do đó có tính an toàn sinh học cao, tuy nhiên còn đắt tiền. (5) Chụp mạch máu và X-quang can thiệp (Angiography and Interventional Radiography): Bằng cách đưa các catheter qua đường các mạch máu ta có thể bơm thuốc cản quang để chụp hoặc để can thiệp điều trị một số bệnh.
Cũng từ thập kỷ1970, kỹ thuật số ra đời phát triển nhanh chóng, đã tạo tiền đề cho CĐHA nói chung và chụp mạch máu nói riêng có những thành tựu mới. Do đó kỹ thuật số hóa hình ảnh thay thế dần các kỹ thuật quy ước, chụp mạch máu có tên mới là “Chụp mạch máu số hóa xóa nền” (Digital Subtraction Angiography - DSA). Nguyên lý tạo ra tia X Tia X được tạo ra từ sự thay đổi quỹ đạo của electron khi nó đang chuyển động có gia tốc đến va chạm với các nguyên tử. Lúc quỹ đạo của tia X thay đổi, một phần động năng (là năng lượng của một vật thể có được khi chuyển động) của electron sẽ bị mất đi và chính năng lượng này chuyển thành bức xạ điện từ và phát ra tia X.
Chỉ khoảng 1% động năng được biến đổi thành năng lượng tia X trong suốt quá trình va chạm, 99% chuyển thành nhiệt năng. Dạng năng lượng mới này được điều chỉnh qua các thông số về điện như: điện thế (kV), cường độ dòng điện (mA), thời gian phát tia X (sec).