Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ "Cấu trúc sự hài lòng của sinh viên đối với hoạt động đào tạo đại học" do nghiên cứu sinh Lê Thị Linh Giang thực hiện năm 2015 tại Viện Đảm bảo chất lượng giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Đức Ngọc. Công trình thuộc chuyên ngành Đo lường và đánh giá trong giáo dục, mã số 62 14 01 20.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong bối cảnh kinh tế thị trường xem giáo dục đại học như một loại hình dịch vụ đặc biệt, sự hài lòng của sinh viên (SV) đóng vai trò là mục tiêu cơ bản và điều kiện bảo đảm sự tồn tại, phát triển của các cơ sở giáo dục đại học (Koviljka Banjecvic & Aleksandra Nastasic, 2010). Sự hài lòng của người học phản ánh hiệu quả vận hành của hệ thống đào tạo (Upcraft & Schuh, 1996), củng cố niềm tin (Omar et al., 2009) và định hình hành vi tương lai (Cronin & Taylor, 1992; Fornell, 1992; Clemes et al., 2008). Các mô hình quản lý chất lượng như TQM (Peter & Waterman, 1982 theo Nguyễn Tiến Dũng, 2013), bộ tiêu chuẩn AUN-QA (2004), mạng lưới APQN và Quỹ quản lý chất lượng châu Âu EFQM đều nhấn mạnh vai trò trung tâm của sự hài lòng người học; trong đó EFQM quy định tỷ trọng của sự hài lòng chiếm 29% với 20% thuộc về người học. Tại Việt Nam, quy định tại Văn bản hợp nhất số 06/VBHN-BGDĐT (tiêu chí 6.9) và Quyết định số 1165/QĐ-ĐBCL của Đại học Quốc gia Hà Nội (tiêu chuẩn 13 và 15) đã thể chế chế định việc lấy ý kiến phản hồi và giám sát mức độ hài lòng của người học.
Mặc dù có nhiều đề tài khảo sát sự hài lòng, các nghiên cứu trước đây phần lớn dừng lại ở việc mô tả thông tin rời rạc hoặc đo lường đơn lẻ. Tác giả luận án xác định ba khoảng trống nghiên cứu chính:
- Chưa có nghiên cứu đánh giá cấu trúc sự hài lòng của SV đối với hoạt động đào tạo (HĐĐT) trên quy mô tổng thể nhiều trường đại học mang đặc trưng khác nhau nhằm cung cấp bức tranh ở cấp độ vĩ mô.
- Chưa phân tích tường minh và xác định đầy đủ các thành tố tạo nên cấu trúc sự hài lòng của SV trong mối tương tác với HĐĐT.
- Thiếu một bộ công cụ đo lường chuẩn hóa phản ánh đúng đặc trưng của môi trường giáo dục và đối tượng sinh viên tại Việt Nam.
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định các thành tố trong cấu trúc sự hài lòng của SV để đo lường và đánh giá sự hài lòng đối với HĐĐT đại học, từ đó cung cấp căn cứ đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo đại học.
Câu hỏi nghiên cứu
- Câu hỏi 1: Sự hài lòng của SV đối với HĐĐT đại học được cấu thành từ những thành tố nào?
- Câu hỏi 2: Mối quan hệ giữa các thành tố trong cấu trúc sự hài lòng của SV đối với HĐĐT đại học như thế nào?
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lý luận về cấu trúc sự hài lòng của SV đối với HĐĐT đại học.
- Khảo nghiệm khám phá các thành tố tạo nên sự hài lòng của SV đối với HĐĐT đại học.
- Đánh giá mối quan hệ giữa các thành tố trong cấu trúc sự hài lòng của SV đối với HĐĐT đại học.
- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao sự hài lòng của SV dựa trên kết quả nghiên cứu.
Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Sinh viên đại học hệ chính quy đang học tại các trường đại học công lập được lựa chọn. Luận án khảo sát bổ sung một nhóm sinh viên tốt nghiệp (SVTN) nhằm đối sánh mức độ đáp ứng nhu cầu thực tế và định hướng phát triển năng lực nghề nghiệp (NLNN).
- Đối tượng nghiên cứu: Cấu trúc sự hài lòng của sinh viên đối với HĐĐT đại học.
Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
- Phạm vi không gian: 15 trường đại học công lập trên phạm vi toàn quốc.
- Phạm vi thời gian: Khảo nghiệm sơ bộ triển khai vào học kỳ II năm học 2012 - 2013 tại 4 trường đại học công lập; khảo sát chính thức tiến hành vào học kỳ I năm học 2013 - 2014 tại 15 trường đại học công lập.
Luận điểm bảo vệ
Cấu trúc sự hài lòng của SV đối với HĐĐT đại học bao gồm 4 thành tố liên quan đến đặc điểm cá nhân của người học (Kì vọng của SV, Kiểu nhân cách của SV, Sự trải nghiệm của SV tại trường, Ngành nghề SV đang học) trong mối quan hệ tác động qua lại với 5 thành tố của HĐĐT đại học (Chương trình đào tạo, Năng lực chuyên môn của giảng viên, Phẩm chất trách nhiệm của giảng viên, Cơ sở vật chất, Dịch vụ hỗ trợ).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu lý luận và mô hình đo lường sự hài lòng
Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các cách tiếp cận chính:
- Khái niệm sự hài lòng: Parasuraman et al. (1988) tiếp cận sự hài lòng qua khoảng cách giữa trải nghiệm thực tế và sự mong đợi. Tse et al. (1988) định nghĩa sự hài lòng là trạng thái cảm giác từ việc so sánh chất lượng nhận được so với mong đợi. Spreng, MacKenzie và Olshavsky (1996) coi đây là sự thỏa mãn mong muốn của người tiêu dùng, tương đồng với quan điểm của Oliver (1997). Kotler và Keller (2004) xác định sự hài lòng là cảm giác vui thích bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thực tế với kỳ vọng ban đầu. Trong môi trường học thuật, Tough (1982) xem hài lòng là cảm xúc và thái độ tích cực đối với việc học; Sweeney và Ingram (2001) gắn với cảm giác hứng thú khi hoàn thành nhiệm vụ học tập; Zhao (2003) phân tích qua sự thỏa mãn với giảng viên, khóa học và dịch vụ hỗ trợ; tiêu chuẩn ISO 9000 IWA 2:2007 (E) coi đây là mức độ đáp ứng đòi hỏi của người học; Wu et al. (2010) xem đây là tổng hòa niềm tin và thái độ từ toàn bộ lợi ích giáo dục nhận được.
- Mô hình đánh giá sự hài lòng: Lý thuyết "Kỳ vọng - Xác nhận" của Oliver (1985); Mô hình chỉ số hài lòng khách hàng của Mỹ (ACSI) và châu Âu (ECSI) do Lê Văn Huy (2007) tổng thuật; Mô hình chất lượng chức năng và chất lượng kỹ thuật của Gronroos (1984 theo John B. Lyon, 2001); Mô hình 5 khoảng cách chất lượng dịch vụ của Parasuraman et al. (1988); Thang đo SERVQUAL với 5 thành phần (hữu hình, tin cậy, đáp ứng, năng lực phục vụ, cảm thông); Thang đo SERVPERF của Cronin và Taylor (1992). Tác giả dẫn luận điểm của Sirvanci (1996 theo Kamvounias, 1999) chứng minh tính chất không trọn vẹn của "khách hàng sinh viên" (sinh viên bị giới hạn lựa chọn môn học, học phí thường do gia đình hoặc xã hội chi trả, và phải chịu sự kiểm tra, sàng lọc học thuật liên tục), khẳng định không thể sao chép nguyên mẫu thang đo kinh tế vào giáo dục.
Các nghiên cứu về thành tố hoạt động đào tạo và sự hài lòng của sinh viên
- Nghiên cứu quốc tế: Harvey (1995) xác định các thành tố gồm thư viện, máy tính, nhà ăn, ký túc xá, giảng viên, phương pháp giảng dạy, phong trào; Hill (1995) đưa ra 19 khía cạnh dịch vụ; Elliot et al. (2001) chỉ ra 11 thành tố môi trường học thuật; khảo sát Viện British Columbia (BC, 2003) đo lường 6 tiêu chí với 22 chỉ báo; Chr. Koilias (2005) dùng 5 tiêu chí với 27 chỉ báo tại Hy Lạp; M.Joseph Sirgy, Stephan Grzeskowiak và Don Rahtz (2007) đánh giá chất lượng cuộc sống sinh viên qua học thuật và cơ sở vật chất; Firdaus Abdullah (2006) xây dựng thang đo HEdPERF gồm 6 thành phần với 41 tiêu chí; các nghiên cứu tại Belgrade (2010) và Pakistan của Muhammad Nauman Abbasi (2011) tập trung vào giảng dạy và hạ tầng hỗ trợ.
- Nghiên cứu tại Việt Nam: Vũ Thị Phương Anh (2005) tại ĐHQG TP.HCM chỉ ra điểm mạnh về chuyên môn giảng viên và hạn chế về tài liệu, phương pháp; Nguyễn Thúy Quỳnh Loan và Nguyễn Thị Thanh Thoản tại Trường ĐH Bách khoa TP.HCM đánh giá các yếu tố liên thông và kỹ năng; Vũ Trí Toàn (2006) áp dụng SERVQUAL tại Trường ĐH Bách khoa Hà Nội trên 299 sinh viên; Nguyễn Thành Long (2006) ứng dụng biến thể SERVPERF tại Trường ĐH An Giang với mẫu 650 SV, khẳng định giảng viên, cơ sở vật chất và sự tin cậy là các nhân tố chi phối; Nguyễn Thị Trang (2010) khảo sát 352 SV tại Trường ĐH Kinh tế Đà Nẵng; Nguyễn Kim Dung (2010) tổng kết mức độ hài lòng của SV và SVTN giai đoạn 2000 - 2005 tại một số trường đại học.
Các nghiên cứu về đặc điểm cá nhân người học ảnh hưởng đến sự hài lòng
Luận án điểm lại các công trình của Starr (1972), Wu.WR (1992), Zheng.T (1995), Aldridge và Rowley (1998), Snipes (1999), Cashin (1990), Elliot và Healy (2001), Raposo và Alves (2003), W. Tai et al. (2010), Basheer A. Al-Alak và Ahmad Salih Mheidi Alnaser (2012). Về nhân khẩu học, luận án ghi nhận các kết quả trái chiều về giới tính (Aleamoni, 1981; Hancock et al., 1992; Tatro, 1995; Rienzi et al., 1993), năm học (Dalton & Denson, 2009) và kết quả học tập (Crumbley, Henry & Kratchman, 2001; Abrami, Dickens & Perry Leventhal, 1980; Lally & Myhill, 1994). Tại Việt Nam, Nguyễn Phương Nga (2007) nhấn mạnh ảnh hưởng của ngành học; Vũ Thị Quỳnh Nga (2008) chỉ ra vai trò của giới tính, năm học, ngành học, điểm trung bình; Đinh Thị Kim Thoa (2010) ứng dụng trắc nghiệm NEO PI-R xác định sự khác biệt về kiểu nhân cách của SV theo ngành đào tạo.
Từ tổng quan, tác giả xác định 8 thành tố cá nhân ban đầu (kì vọng, kiểu nhân cách, sự trải nghiệm, năng lực học tập, mức độ ham thích ngoại khóa, ngành nghề, vùng miền) và 6 thành tố HĐĐT (chương trình đào tạo, giáo trình - tài liệu học tập, tổ chức đào tạo, giảng viên, cơ sở vật chất - trang thiết bị, dịch vụ hỗ trợ) để xây dựng khung phân tích giải quyết khoảng trống nghiên cứu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm vận dụng
Luận án tích hợp các nền tảng lý thuyết sau:
- Khái niệm cấu trúc của Anthony Giddens (theo Lê Ngọc Hùng, 2014): Cấu trúc được hiểu theo nghĩa tĩnh học là một cách sắp xếp được định hình ổn định của các mối liên hệ giữa các yếu tố quan sát được.
- Học thuyết tâm lý hành vi nhận thức của E.Tolman (theo Phan Trọng Ngọ, 2003): Xem xét sự hài lòng là kết quả của quá trình tâm lý cá thể (đặc trưng cá nhân người học) hình thành trong sự tương tác với kích thích từ môi trường (các thành tố HĐĐT của nhà trường).
- Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow (1943): Tiếp cận bản chất sự hài lòng từ sự thỏa mãn các cấp độ nhu cầu nhận thức và phát triển bản thân của người học.
- Thuyết kỳ vọng của Victor Vroom: Phân tích động cơ thúc đẩy qua mối liên kết giữa Nỗ lực -> Sự thực hiện (kỳ vọng E -> P) và Sự thực hiện -> Kết quả đầu ra (kỳ vọng P -> O). Sự hài lòng của SV phụ thuộc vào độ lệch giữa chất lượng đào tạo kỳ vọng và chất lượng đào tạo thực tế nhận được.
- Lý thuyết hoạt động và Lý thuyết cấu trúc - chức năng: Tiếp cận HĐĐT của nhà trường và hoạt động học tập của người học như các tiểu hệ thống tương tác chức năng.
- Khái niệm chương trình đào tạo (CTĐT): Kế thừa định nghĩa của George J. Posner (2004), Lê Đức Ngọc (2004), Trần Bá Hoành (2007) và Đinh Thị Kim Thoa (2008), xác định CTĐT là kế hoạch tổng thể thể hiện mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện và đánh giá.
Định nghĩa thao tác của luận án: Sự hài lòng của sinh viên đối với HĐĐT đại học là "sự thỏa mãn kì vọng của chính SV về điều kiện và hoạt động đào tạo (chương trình đào tạo, giáo trình, tài liệu học tập, tổ chức đào tạo, đội ngũ GV, cơ sở vật chất, trang thiết bị hỗ trợ, dịch vụ hỗ trợ…) nhằm thỏa mãn nhu cầu trở thành người có năng lực trong lĩnh vực được đào tạo".
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Phương pháp định tính: Phân tích, tổng hợp tài liệu học thuật trong và ngoài nước; tổng kết kinh nghiệm thực tiễn; phương pháp chuyên gia lấy ý kiến các nhà khoa học và cán bộ quản lý (CBQL) giáo dục về danh mục thành tố và biến quan sát.
- Phương pháp định lượng: Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (phiếu trưng cầu ý kiến) đối với sinh viên đang học và SVTN; phỏng vấn CBQL; phương pháp thống kê mô tả (tính điểm trung bình ĐTB, độ lệch chuẩn ĐLC); phương pháp thống kê suy luận (phân tích độ tin cậy Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA với phép trích và phép xoay Varimax, phân tích nhân tố khẳng định CFA, phân tích tương quan và hồi quy).
- Công cụ và phần mềm xử lý dữ liệu: Phần mềm SPSS, AMOS và Microsoft Excel.
Quy trình nghiên cứu thực tế
Luận án thiết kế quy trình nghiên cứu thực nghiệm qua 4 bước:
| Bước |
Nội dung triển khai |
Phương pháp sử dụng |
Sản phẩm khoa học |
| Bước 1 |
Tổng quan vấn đề nghiên cứu |
Phương pháp nghiên cứu lý thuyết, thu thập thông tin, chuyên gia |
Hệ thống hóa quan niệm về sự hài lòng, HĐĐT, các mô hình đánh giá và danh mục thành tố giả thuyết. |
| Bước 2 |
Xây dựng cơ sở lý luận |
Phương pháp lý thuyết, thu thập thông tin, chuyên gia |
Khung lý thuyết, mô hình giả thuyết cấu trúc sự hài lòng, bản thảo bộ công cụ đo lường ban đầu. |
| Bước 3 |
Triển khai khảo cứu mô hình |
Phương pháp định tính, định lượng, chuyên gia |
Khảo nghiệm thử nghiệm (4 trường), hiệu chỉnh bộ công cụ đo và chuẩn hóa mô hình nghiên cứu. |
| Bước 4 |
Đánh giá mô hình qua thực tiễn |
Phương pháp định lượng, chuyên gia |
Bộ dữ liệu khảo sát chính thức (15 trường), mô hình cấu trúc thực chứng được kiểm định qua CFA/EFA, nhóm giải pháp. |
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Cơ sở lý luận về cấu trúc sự hài lòng của sinh viên đối với hoạt động đào tạo đại học
Chương I phân tích có hệ thống 4 nhóm nội dung lý luận: quan niệm về sự hài lòng; các mô hình đánh giá sự hài lòng trong kinh tế và khả năng thích ứng trong giáo dục; các thành tố của HĐĐT; các thành tố phản ánh đặc trưng người học. Tác giả chỉ ra rằng khi xem giáo dục là dịch vụ thì các mô hình như ACSI, ECSI, SERVQUAL hay SERVPERF bộc lộ hạn chế do không phản ánh được tính tương tác đào tạo và trách nhiệm học tập của SV.
Dựa trên lý thuyết của E.Tolman và Victor Vroom, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu giả thuyết ban đầu gồm:
- 8 thành tố thuộc về người học: (1) Kì vọng của SV, (2) Kiểu nhân cách của SV, (3) Sự trải nghiệm của SV tại trường (năm học), (4) Năng lực của SV (kết quả học tập), (5) Mức độ ham thích tham gia hoạt động ngoại khóa, (6) Ngành nghề đang học, (7) Vùng miền nơi SV học tập, (8) Giới tính.
- 6 thành tố thuộc về HĐĐT của nhà trường: (1) Chương trình đào tạo, (2) Giáo trình và tài liệu học tập, (3) Tổ chức đào tạo, (4) Đội ngũ giảng viên, (5) Cơ sở vật chất và trang thiết bị, (6) Dịch vụ hỗ trợ.
Chương này hoàn thiện khung phân tích để chuyển sang bước kiểm định thực nghiệm công cụ đo lường.
Chương II: Triển khai khảo nghiệm mô hình nghiên cứu về cấu trúc sự hài lòng của sinh viên đối với hoạt động đào tạo đại học
Chương II trình bày thiết kế nghiên cứu thực nghiệm, quy trình phát triển thang đo và kết quả khảo nghiệm thử nghiệm công cụ:
- Quy trình phát triển công cụ: Bảng hỏi được thiết kế theo thang đo Likert, xây dựng qua lấy ý kiến chuyên gia và thảo luận nhóm. Bộ công cụ trải qua quá trình khảo nghiệm sơ bộ tại 4 trường đại học công lập (Bảng 2.2).
- Kiểm định độ tin cậy và giá trị sơ bộ: Dữ liệu khảo nghiệm lần 2 tại 4 trường được xử lý qua phân tích EFA bằng phép xoay Varimax (Bảng 2.3) và phân tích hệ số tin cậy Cronbach's Alpha (Bảng 2.4). Các biến quan sát không đạt yêu cầu về hệ số tải nhân tố hoặc làm giảm độ tin cậy của thang đo đã bị loại bỏ. Kết quả khảo nghiệm giúp tái cấu trúc các biến quan sát thuộc HĐĐT từ 6 nhóm ban đầu thành các nhóm nhân tố có tính hội tụ cao hơn.
- Triển khai nghiên cứu chính thức: Tác giả xác định danh sách mẫu nghiên cứu chính thức tại 15 trường đại học công lập trên cả nước (Bảng 2.5), phân bổ cho hai nhóm khách thể:
- Nhóm sinh viên đang học: Thống kê số lượng mẫu và cấu trúc nhân khẩu học theo trường, ngành học, năm đào tạo, vùng miền (Bảng 2.6 và Bảng 2.7).
- Nhóm sinh viên tốt nghiệp: Thống kê số lượng mẫu SVTN phục vụ mục đích kiểm chứng đối sánh (Bảng 2.8).
Chương III: Đánh giá mô hình cấu trúc sự hài lòng của sinh viên đối với HĐĐT đại học qua thực tiễn
Chương III tập trung phân tích định lượng kết quả điều tra diện rộng tại 15 trường đại học công lập, kiểm định mô hình và thảo luận giải pháp:
- Đánh giá thực trạng mức độ hài lòng: Phân tích điểm trung bình (ĐTB) và độ lệch chuẩn (ĐLC) đánh giá chung (Bảng 3.1). So sánh ĐTB giữa ba khía cạnh Kì vọng, Đáp ứng và Hài lòng của nhóm SV đang học (Bảng 3.2, Hình 3.1) và nhóm SV tốt nghiệp (Bảng 3.3, Hình 3.2). Kết quả ghi nhận khoảng cách (gap) giữa kỳ vọng của SV và mức độ đáp ứng thực tế của nhà trường.
- Phân tích tương quan năng lực và định hướng nghề nghiệp: Đánh giá mức độ hài lòng theo kết quả xếp loại học tập (Bảng 3.4). Xây dựng ma trận hệ số tương quan giữa sự hài lòng với định hướng phát triển năng lực nghề nghiệp (NLNN) của nhóm SV đang học (Bảng 3.5) và nhóm SVTN (Bảng 3.6).
- Tái cấu trúc mô hình qua phân tích EFA và CFA:
- Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA đối với nhóm SV đang học (Bảng 3.7) và nhóm SVTN (Bảng 3.8).
- Kết quả phân tích nhân tố khẳng định CFA cho thấy cấu trúc HĐĐT của nhà trường hội tụ thành 5 thành tố: (1) Chương trình đào tạo, (2) Năng lực chuyên môn của giảng viên, (3) Phẩm chất trách nhiệm của giảng viên, (4) Cơ sở vật chất, (5) Dịch vụ hỗ trợ (Hình 3.3, Hình 3.4, Hình 3.5, Hình 3.6). Trong đó, thành tố giảng viên được tách biệt rõ ràng thành hai khía cạnh: "năng lực chuyên môn" và "phẩm chất trách nhiệm". Các khía cạnh về giáo trình, tài liệu và tổ chức đào tạo được tích hợp vào chương trình đào tạo và dịch vụ hỗ trợ.
- Mô hình cấu trúc sự hài lòng chính thức của SV đối với HĐĐT đại học (Hình 3.7) xác lập mối quan hệ tác động giữa 4 thành tố cá nhân SV (Kì vọng, Kiểu nhân cách, Sự trải nghiệm tại trường, Ngành nghề đang học) với 5 thành tố của HĐĐT.
- Kiểm định các mối quan hệ thành phần:
- Hệ số tương quan giữa thành tố kì vọng của SV với cấu trúc HĐĐT (Bảng 3.9).
- Mối quan hệ giữa thành tố kiểu nhân cách với cấu trúc HĐĐT (Bảng 3.10).
- Mối quan hệ giữa thành tố sự trải nghiệm (năm học) với cấu trúc HĐĐT (Bảng 3.11).
- Mối quan hệ giữa thành tố kết quả học tập với cấu trúc HĐĐT (Bảng 3.12).
- Mối quan hệ giữa mức độ ham thích hoạt động ngoại khóa với cấu trúc HĐĐT (Bảng 3.13).
- Mối quan hệ giữa vùng miền nơi học tập với cấu trúc HĐĐT (Bảng 3.14).
- Mối quan hệ giữa ngành nghề đào tạo với cấu trúc HĐĐT (Bảng 3.15).
- Nhận định và đề xuất giải pháp: Tác giả tổng hợp nhận định về kỹ thuật đo lường, cấu trúc mô hình thực chứng và đề xuất các nhóm giải pháp quản lý tương ứng với 5 thành tố của HĐĐT (CTĐT, năng lực chuyên môn GV, phẩm chất trách nhiệm GV, cơ sở vật chất, dịch vụ hỗ trợ) nhằm thu hẹp khoảng cách kỳ vọng của người học.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án xây dựng được mô hình lý thuyết và kiểm định thực chứng cấu trúc sự hài lòng của sinh viên đối với HĐĐT đại học phù hợp với bối cảnh giáo dục đại học công lập Việt Nam.
- Luận án phân định định lượng các thành tố cấu thành sự hài lòng của SV, chứng minh sự hài lòng được xác lập từ sự tương tác giữa 4 đặc trưng người học (Kì vọng, Kiểu nhân cách, Sự trải nghiệm tại trường, Ngành nghề đang học) và 5 thành tố HĐĐT của nhà trường.
- Luận án đóng góp về mặt khái niệm khi tách biệt hai phương diện cấu thành của đội ngũ giảng viên trong nhận thức của người học: thành tố "Năng lực chuyên môn của giảng viên" và thành tố "Phẩm chất trách nhiệm của giảng viên", thay vì gộp chung như các nghiên cứu trước đây.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Xây dựng và chuẩn hóa bộ công cụ đo lường sự hài lòng của sinh viên đối với HĐĐT đại học, có độ tin cậy và độ giá trị được kiểm định qua phân tích EFA, CFA trên cỡ mẫu lớn tại 15 trường đại học công lập.
- Cung cấp bức tranh thực trạng về mức độ hài lòng, làm rõ độ lệch giữa kỳ vọng của người học và khả năng đáp ứng của các trường đại học công lập hiện nay.
- Đề xuất hệ thống nhóm giải pháp quản trị chất lượng cho các trường đại học, tập trung can thiệp đồng bộ vào 5 thành tố HĐĐT để nâng cao chỉ số hài lòng của người học và đáp ứng định hướng phát triển năng lực nghề nghiệp.
Điểm mới của luận án
Theo công bố của tác giả trong chuyên ngành Đo lường và đánh giá trong giáo dục, luận án xác lập ba điểm mới trọng tâm:
- Mô tả định lượng các thành tố của cấu trúc hợp lý về HĐĐT đại học.
- Xác định bằng cả định tính và định lượng các thành tố thuộc cấu trúc sự hài lòng của sinh viên đối với HĐĐT đại học.
- Đánh giá định lượng mối quan hệ tương tác giữa các thành tố cá nhân sinh viên và các thành tố HĐĐT, làm căn cứ đề xuất nhóm giải pháp cải tiến chất lượng từng thành phần.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
Căn cứ theo nội dung văn bản luận án trình bày:
- Phạm vi khách thể khảo sát chỉ tập trung vào sinh viên hệ chính quy tại 15 trường đại học công lập, chưa khảo sát các trường đại học ngoài công lập, các viện đào tạo chuyên ngành đặc thù hoặc các cơ sở đào tạo liên kết quốc tế.
- Khách thể sinh viên tốt nghiệp (SVTN) chỉ được thu thập như một nhóm mẫu phụ với quy mô nhỏ để đối sánh, chưa bao quát đầy đủ các thế hệ cựu sinh viên sau khi đã tham gia thị trường lao động dài hạn.
- Nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang (cross-sectional) tại hai thời điểm khảo sát (HKII 2012 - 2013 và HKI 2013 - 2014), chưa theo dõi sự biến đổi sự hài lòng của cùng một nhóm người học xuyên suốt chu kỳ từ khi nhập học đến sau khi ra trường.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng phạm vi khảo nghiệm bộ công cụ đo lường sang các loại hình cơ sở giáo dục đại học ngoài công lập, các trường đại học địa phương và các bậc học khác như cao đẳng, sau đại học.
- Tăng cường quy mô mẫu khảo sát đối với nhóm sinh viên tốt nghiệp và người sử dụng lao động để đánh giá sâu hơn mối liên hệ giữa sự hài lòng trong quá trình đào tạo và khả năng đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp thực tế.
- Thực hiện các nghiên cứu dọc (longitudinal studies) theo dõi biến động kỳ vọng và mức độ thỏa mãn của sinh viên qua từng năm học nhằm cung cấp dữ liệu chuỗi thời gian cho công tác bảo đảm chất lượng.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các nhóm đối tượng và lĩnh vực sau:
- Cán bộ quản lý giáo dục và Ban giám hiệu các trường đại học: Tham khảo mô hình 5 thành tố HĐĐT (Chương trình đào tạo, Năng lực chuyên môn giảng viên, Phẩm chất trách nhiệm giảng viên, Cơ sở vật chất, Dịch vụ hỗ trợ) để xây dựng chính sách điều hành, phân bổ nguồn lực và đổi mới phương pháp quản trị nhà trường theo định hướng đáp ứng nhu cầu người học.
- Đơn vị Khảo thí và Đảm bảo chất lượng giáo dục: Sử dụng quy trình và bảng hỏi đã chuẩn hóa của luận án làm công cụ định kỳ thu thập phản hồi của người học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Văn bản hợp nhất số 06/VBHN-BGDĐT) và tiêu chuẩn đánh giá cấp cơ sở giáo dục, cấp chương trình đào tạo.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Đo lường và Đánh giá trong giáo dục, Quản lý giáo dục: Tham khảo cách thức vận dụng kết hợp lý thuyết tâm lý học hành vi (Tolman), lý thuyết kỳ vọng (Vroom) với các mô hình đo lường chất lượng dịch vụ; quy trình kiểm định thang đo từ EFA đến CFA bằng phần mềm SPSS và AMOS.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa sự hài lòng của sinh viên đối với hoạt động đào tạo đại học như thế nào?
Theo tác giả Lê Thị Linh Giang, sự hài lòng của sinh viên đối với hoạt động đào tạo đại học là sự thỏa mãn kì vọng của chính sinh viên về điều kiện và hoạt động đào tạo (bao gồm chương trình đào tạo, giáo trình, tài liệu học tập, tổ chức đào tạo, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, trang thiết bị hỗ trợ, dịch vụ hỗ trợ...) nhằm thỏa mãn nhu cầu trở thành người có năng lực trong lĩnh vực được đào tạo.
2. Cấu trúc sự hài lòng của sinh viên sau khi kiểm định thực tế gồm những thành tố nào?
Sau khi khảo nghiệm và phân tích nhân tố (EFA, CFA), cấu trúc hoàn chỉnh được xác lập gồm 4 thành tố cá nhân sinh viên (Kì vọng của SV, Kiểu nhân cách của SV, Sự trải nghiệm của SV tại trường, Ngành nghề SV đang học) trong mối quan hệ với 5 thành tố của HĐĐT (Chương trình đào tạo, Năng lực chuyên môn của giảng viên, Phẩm chất trách nhiệm của giảng viên, Cơ sở vật chất, Dịch vụ hỗ trợ).
3. Quy mô và địa bàn khảo sát thực nghiệm của đề tài được triển khai ở đâu?
Nghiên cứu được triển khai tại 15 trường đại học công lập trên phạm vi toàn quốc. Giai đoạn khảo nghiệm sơ bộ lần 2 tiến hành tại 4 trường trong học kỳ II năm học 2012 - 2013; giai đoạn điều tra chính thức tiến hành tại 15 trường trong học kỳ I năm học 2013 - 2014 trên hai nhóm khách thể là sinh viên đang học và sinh viên tốt nghiệp.
4. Tại sao tác giả cho rằng không thể áp dụng nguyên mẫu các mô hình kinh tế như SERVQUAL hay ACSI vào giáo dục đại học?
Dẫn theo lập luận của Sirvanci (1996), luận án chỉ ra vai trò khách hàng của sinh viên không trọn vẹn vì 3 lý do: (1) sinh viên không có quyền tự do tuyệt đối mua bất kỳ môn học nào mà bị ràng buộc bởi khung chương trình; (2) chi phí đào tạo phần lớn do gia đình và xã hội hỗ trợ, không hoàn toàn do sinh viên tự chi trả; (3) sinh viên không được tiêu dùng tự do mà phải liên tục chịu sự kiểm tra, đánh giá học thuật và có thể bị buộc ngừng học nếu không đạt chuẩn.
5. Luận án sử dụng những công cụ và kỹ thuật phân tích thống kê nào để xử lý dữ liệu?
Tác giả sử dụng các phần mềm SPSS, AMOS và Microsoft Excel để tiến hành: thống kê mô tả (tính điểm trung bình ĐTB, độ lệch chuẩn ĐLC); kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha; phân tích nhân tố khám phá EFA (phép xoay Varimax); phân tích nhân tố khẳng định CFA; và phân tích ma trận tương quan giữa các biến số.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Linh Giang đã giải quyết câu hỏi nghiên cứu về cấu trúc sự hài lòng của sinh viên đối với hoạt động đào tạo đại học thông qua việc kết hợp nền tảng lý thuyết đo lường giáo dục, tâm lý học nhận thức và quản trị chất lượng. Công trình đã chuẩn hóa và kiểm định thành công mô hình cấu trúc thực chứng gồm 4 đặc trưng người học tương tác với 5 thành tố đào tạo dựa trên dữ liệu khảo sát tại 15 trường đại học công lập Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cung cấp bộ công cụ đo lường có độ tin cậy khoa học và hệ thống giải pháp thực tiễn hỗ trợ các cơ sở giáo dục đại học nâng cao chất lượng đào tạo theo định hướng đáp ứng kỳ vọng của người học.