Nghiên cứu cấu trúc nano vàng bạc trên silic để nhận biết phân tử hữu cơ qua tán xạ Raman

Luận án trình bày phương pháp chế tạo cấu trúc nano vàng bạc trên silic, ứng dụng trong nhận biết phân tử hữu cơ qua tán xạ Raman.

Trường đại học

Trường Đại Học

Chuyên ngành

Vật Liệu Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ
147
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÁN XẠ RAMAN TĂNG CƯỜNG BỀ MẶT (SERS)

1.1. Tán xạ Raman

1.2. Tán xạ Raman tăng cường bề mặt

1.2.1. Cơ chế tăng cường điện từ

1.2.2. Cơ chế tăng cường hóa học

2. CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẾ TẠO VÀ KHẢO SÁT ĐẾ SERS

3. CHƯƠNG 3: CHẾ TẠO VÀ KHẢO SÁT CÁC TÍNH CHẤT CỦA CÁC CẤU TRÚC NANO BẠC VÀ NANO VÀNG TRÊN SI

4. CHƯƠNG 4: SỬ DỤNG CÁC CẤU TRÚC NANO VÀNG, BẠC DẠNG HOA, LÁ LÀM ĐẾ SERS ĐỂ PHÁT HIỆN VẾT CỦA MỘT SỐ PHÂN TỬ HỮU CƠ

KẾT LUẬN

Tóm tắt

I. Giới thiệu

Trong những thập kỷ gần đây, sự phát triển của công nghiệp và nông nghiệp đã mang lại nhiều lợi ích kinh tế, nhưng cũng gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Các hóa chất độc hại từ sản phẩm nông nghiệp ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Việc xác định dư lượng hóa chất độc hại trong thực phẩm và nông sản là một thách thức lớn. Phương pháp sắc ký hiện tại tuy chính xác nhưng tốn kém và yêu cầu chuyên môn cao. Tán xạ Raman tăng cường bề mặt (SERS) đã nổi lên như một giải pháp khả thi, cho phép phát hiện nhanh chóng và hiệu quả các phân tử hữu cơ ở nồng độ thấp. SERS yêu cầu bề mặt kim loại quý như bạc (Ag) hoặc vàng (Au) với cấu trúc nano gồ ghề, giúp khuếch đại tín hiệu Raman. Đế SERS là linh kiện cảm biến quan trọng, quyết định mức độ khuếch đại tín hiệu.

1.1. Tầm quan trọng của SERS

SERS đã trở thành một công nghệ quan trọng trong việc phát hiện các phân tử hữu cơ độc hại. Kỹ thuật này cho phép phát hiện các chất ở nồng độ rất thấp, từ phần triệu đến phần tỷ. SERS không chỉ nhanh chóng mà còn tiết kiệm chi phí, làm cho nó trở thành một công cụ lý tưởng cho các ứng dụng trong sinh học và hóa học. Việc phát hiện sớm các chất độc hại có thể giúp bảo vệ sức khỏe cộng đồng và môi trường.

II. Phương pháp chế tạo đế SERS

Các phương pháp chế tạo đế SERS chủ yếu bao gồm lắng đọng hóa học và lắng đọng điện hóa. Những phương pháp này không chỉ đơn giản mà còn tiết kiệm chi phí, cho phép tạo ra các cấu trúc nano kim loại với hình thái học đa dạng như hình lá và hoa. Các cấu trúc này có nhiều điểm nóng trên bề mặt, giúp tăng cường hiệu ứng SERS. Tại Việt Nam, nghiên cứu về chế tạo các cấu trúc nano kim loại quý như Ag và Au đã được thực hiện, nhưng chủ yếu tập trung vào cấu trúc hạt. Việc nghiên cứu các cấu trúc lá nano bạc (AgNDs), hoa nano bạc (AgNFs) và hoa nano vàng (AuNFs) trên silic (Si) là cần thiết để mở rộng ứng dụng của SERS.

2.1. Các phương pháp chế tạo

Phương pháp lắng đọng hóa học và lắng đọng điện hóa đã được chứng minh là hiệu quả trong việc tạo ra các cấu trúc nano kim loại. Những phương pháp này cho phép kiểm soát tốt các thông số cấu trúc, từ đó tạo ra các đế SERS với chất lượng cao. Việc sử dụng Si làm nền lắng đọng giúp đảm bảo tính trung tính và không ảnh hưởng đến phổ SERS của các chất phân tích. Si cũng có giá thành thấp và dễ dàng tiếp cận, làm cho nó trở thành lựa chọn lý tưởng cho nghiên cứu và ứng dụng.

III. Tính chất và ứng dụng của cấu trúc nano

Các cấu trúc nano bạc và vàng trên Si đã được nghiên cứu kỹ lưỡng về hình thái, cấu trúc và tính chất quang học. Phương pháp phân tích như chụp ảnh SEM, XRD và ghi phổ hấp thụ UV-Vis đã được sử dụng để đánh giá các đặc tính này. Kết quả cho thấy các cấu trúc nano này có khả năng khuếch đại tín hiệu Raman mạnh mẽ, nhờ vào hiệu ứng plasmon bề mặt. Việc phát hiện các phân tử hữu cơ độc hại như thuốc bảo vệ thực vật và chất phụ gia trong thực phẩm đã được thực hiện thành công, chứng minh tính khả thi của các cấu trúc nano này trong ứng dụng thực tiễn.

3.1. Ứng dụng trong phát hiện phân tử hữu cơ

Các cấu trúc nano bạc và vàng đã được sử dụng để phát hiện các phân tử hữu cơ độc hại ở nồng độ thấp. Kết quả cho thấy khả năng phát hiện các chất như paraquat, pyridaben và thiram với độ nhạy cao. Sự đáp ứng của các cấu trúc nano này đối với yêu cầu của một đế SERS tốt đã được nghiên cứu và so sánh, cho thấy tiềm năng lớn trong việc ứng dụng SERS trong lĩnh vực an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường.

IV. Kết luận

Nghiên cứu về cấu trúc nano vàng bạc trên silic cho thấy tiềm năng lớn trong việc phát hiện phân tử hữu cơ bằng tán xạ Raman. Các phương pháp chế tạo đơn giản và hiệu quả đã cho ra đời các cấu trúc nano với tính chất quang học vượt trội. SERS không chỉ là một công cụ phân tích mạnh mẽ mà còn mở ra hướng đi mới trong nghiên cứu và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Việc phát triển và tối ưu hóa các cấu trúc nano này sẽ tiếp tục là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng trong tương lai.

4.1. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào việc tối ưu hóa hình thái và kích thước của các cấu trúc nano để nâng cao hiệu suất SERS. Ngoài ra, việc mở rộng ứng dụng của SERS trong các lĩnh vực khác như y học và môi trường cũng cần được xem xét. Sự phát triển của công nghệ nano sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện khả năng phát hiện và phân tích các chất độc hại.

25/01/2025
Luận án chế tạo các cấu trúc nano vàng bạc dạng hoa lá trên silic để sử dụng trong nhận biết một số phân tử hữu cơ bằng tán xạ raman tăng cường bề mặt

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 Tổng quan về tán xạ Raman tăng cường bề mặt (SERS) 1. Tán xạ Raman Tán xạ Raman là tán xạ không đàn hồi của một photon với vật chất, được Raman và Krishnan phát hiện vào năm 1928 [1]. Sự khác nhau về năng lượng của photon tới và photon tán xạ tương ứng với năng lượng dao động trong mạng tinh thể hoặc dao động của phân tử vật chất. Khi chiếu photon có tần số 0 (hay năng lượng h0) tới một phân tử (hoặc một tinh thể), photon bị tán xạ theo tất cả các hướng.

Tán xạ có thể là đàn hồi hoặc không đàn hồi. Trong trường hợp tán xạ đàn hồi, các photon bị tán xạ có cùng tần số 0 với photon tới (trường hợp này được gọi là tán xạ Rayleigh), xác suất xảy ra quá trình này là lớn. Trong trường hợp có trao đổi năng lượng, các photon bị tán xạ có tần số (hay năng lượng) lớn hơn hoặc nhỏ hơn năng lượng của photon tới  = 0  i, trong đó i là tần số của dao động của phân tử (hay tinh thể). Trường hợp này được gọi là tán xạ Raman, có xác suất xảy ra thấp.

Tán xạ Raman gồm hai loại là tán xạ Stockes và đối Stockes (anti-Stockes). Nếu photon tán xạ có tần số thấp hơn tần số photon tới ( = 0 - i), ta có vạch Stokes trong phổ Raman. Trường hợp photon tán xạ có tần số lớn hơn tần số photon tới ( = 0 + i) ta có các vạch đối Stokes (anti-Stockes) trong phổ Raman.1 mô tả sơ đồ biểu diễn tán xạ Raman và tán xạ Rayleigh. Nguyên tử trong phân tử hoặc tinh thể có thể nằm ở trạng thái cơ bản hoặc các trạng thái kích thích.

Khi nhận được năng lượng từ photon ánh sáng, nguyên tử có thể từ mức năng lượng cơ bản nhảy lên một mức năng lượng ảo rồi trở về trạng thái kích thích và tạo ra vạch Stockes. Trạng thái ảo không phải là một trạng thái ổn định của hệ. Nó không phải là nghiệm của phương trình Schrodinger không phụ thuộc vào thời gian và do đó không tương ứng với một giá trị năng lượng xác định. Trong một quá trình hấp thụ thực năng lượng luôn luôn được bảo toàn và trạng thái tạo ra của hệ là một trạng thái rời rạc.

Hấp thụ mà không bảo toàn năng lượng được gọi là hấp thụ ảo và trạng thái được tạo ra lúc này là một trạng thái ảo [2].1) 6 Khi các nguyên tử từ trạng thái cơ bản nhảy lên mức ảo rồi lại trở về trạng thái dao động thì tạo ra vạch Stokes Raman (phương trình (1. Khi các nguyên tử từ trạng thái kích thích nhảy lên mức ảo rồi trở về trạng thái cơ bản thì tạo ra vạch đối Stokes Raman (phương trình (1. Giản đồ năng lượng cho tán xạ Raman, tán xạ Rayleigh. Cường độ của vạch Stockes lớn hơn nhiều so với vạch đối Stockes.

Nguyên nhân là do trong điều kiện bình thường, các nguyên tử ở trạng thái cơ bản nhiều hơn rất nhiều so với các nguyên tử ở trạng thái kích thích (định luật phân bố Maxwell- Boltzmann), vì vậy số nguyên tử tham gia vào quá trình Stockes lớn hơn rất nhiều so với các nguyên tử tham gia vào quá trình đối Stockes. Sự chênh lệch về số sóng ánh sáng tới và ánh sáng tán xạ được gọi là dịch chuyển Raman (Raman shift) và được xác định thông qua phương trình: ∆ = − (1.3) ớ á ạ trong đó Δν là dịch chuyển Raman về số sóng, tới là bước sóng của ánh sáng tới còn tán xạ là bước sóng của ánh sáng tán xạ. Không phải trên tất cả các dao động đều quan sát được phổ Raman. Để quan sát được ở trên phổ Raman, các dao động cần phải tuân theo quy tắc chọn lọc đó là chỉ có các dao động nào làm thay đổi độ phân cực của phân tử, nguyên tử thì mới là dao động tích cực Raman và có thể quan sát được trên phổ Raman [2].

Dao động của các phân tử trong đó mỗi nguyên tử của phân tử dao động cùng tần số và lệch ra khỏi vị trí cân bằng của nó cùng một lúc với tất cả các nguyên tử khác trong phân tử, được gọi là các mode dao động cơ bản. Số mode dao động cơ bản của một phân 7 tử phụ thuộc vào số lượng của các nguyên tử trong phân tử. Các mode dao động cơ bản của phân tử H2O được minh họa tương ứng trong Hình 1.2, sự thay đổi về hình dạng, kích thước và độ phân cực của chúng được mô tả trong Hình 1. Các mode dao động cơ bản của phân tử H2O.

Ba mode dao động của H2O với sự thay đổi a) kích thước, (b) hình dạng và (c) định hướng của các ellipsoid phân cực của các phân tử nước. Đối với một mode dao động được coi là tích cực Raman, sự dao động phải gây ra một số thay đổi trong sự phân cực của phân tử. Ellipsoid phân cực của các phân tử có thể thay đổi về độ lớn hoặc hình dạng hoặc hướng trong quá trình dao động.3 minh họa các ellipsoid phân cực của phân tử nước trong các mode dao động cơ bản. Đối với mỗi dao động, ellipsoid phân cực được chỉ ra tại vị trí cân bằng của phân tử và ở các bước thay đổi của dao động.

Có thể thấy rằng cả ba mode 8 dao động của phân tử nước đều gây ra một sự thay đổi của ellipsoid phân cực bao gồm thay đổi về kích thước (Hình 1.3 (a)), hình dạng (Hình 1.3 (b)) và hướng (Hình 1. Như vậy, cả ba mode dao động cơ bản của phân tử nước là đều là các dao động tích cực Raman. Phổ Raman cung cấp các thông tin về các quá trình chuyển đổi dao động của phân tử và do đó nó được coi là dấu vân tay quang học của hóa chất và phân tử sinh học. Vì vậy, từ lâu tán xạ Raman đã được coi là một công cụ có giá trị cho việc xác định các mẫu hóa học và sinh học, cũng như đối với sự giải thích của cấu trúc phân tử, các quá trình bề mặt và các phản ứng giao diện [3].

Việc nghiên cứu dao động bằng phổ tán xạ Raman cũng có những nhược điểm nhất định. Xác suất xảy ra tán xạ Raman rất thấp (cỡ 10-8, nghĩa là trung bình cứ 108 photon tới thì mới có một photon bị tán xạ Raman), do đó cường độ của hiệu ứng Raman thường rất thấp, chỉ vào khoảng 10-8 cường độ ánh sáng tới. Vì vậy rất khó để thu được tín hiệu Raman của các phân tử với nồng độ thấp. Ứng dụng của tán xạ Raman trong việc phân tích phát hiện các phân tử do vậy cũng bị hạn chế rất nhiều.

Nhược điểm này có thể được giải quyết bằng tán xạ Raman tăng cường bề mặt (SERS). Tán xạ Raman tăng cường bề mặt Tán xạ Raman tăng cường bề mặt là hiện tượng cường độ tán xạ Raman tăng lên rất nhiều lần khi phân tử chất phân tích được hấp phụ trên bề mặt của một cấu trúc nano kim loại ghồ ghề. Hiện tượng này lần đầu tiên được phát hiện bởi nhóm nghiên cứu của M. Fleischmann vào năm 1974, khi họ quan sát thấy tín hiệu Raman của pyridine được tăng cường lên gấp nhiều lần khi pyridine được cho hấp phụ lên trên bề mặt của một điện cực bạc nhám [4].

Các tác giả cho rằng nguyên nhân của sự gia tăng này là do sự tăng lên của diện tích bề mặt. Vào năm 1977, hai nhóm nghiên cứu của D. Albrecht, lần đầu tiên chứng minh rằng việc tăng cường rất lớn (ước tính là 106 lần) của cường độ tán xạ Raman của pyridine không chỉ do sự tăng lên của diện tích bề mặt mà còn được gây ra bởi sự tăng cường trong hiệu suất tán xạ Raman [5,6]. Tính chất quang đặc biệt của đế kim loại được đề xuất là nguyên nhân chính làm tăng cường điện trường cục bộ nơi mà các phân tử được hấp phụ.

Sau nhiều thập kỉ tranh cãi, mặc dù chưa có sự nhất trí hoàn toàn, nhưng đến nay về cơ bản các nhóm nghiên cứu đều thống nhất rằng có 9 hai cơ chế chủ yếu góp phần vào sự tăng cường tín hiệu Raman trong hiệu ứng SERS như sau: - Một là, tăng cường điện từ (EM), dựa trên khuếch đại điện trường cảm ứng, khi các phân tử chất phân tích được hấp phụ trên bề mặt các cấu trúc nano kim loại được hỗ trợ bởi cộng hưởng plasmons bề mặt cục bộ. Cơ chế này đóng góp chính trong sự tăng cường tín hiệu Raman của SERS. - Hai là, tăng cường hóa học (CE), chỉ đóng góp 1 đến 2 bậc trong sự tăng cường tín hiệu SERS, cơ chế tăng cường này liên quan đến chuyển tiếp có điều kiện trong hệ thống phân tử chất hấp phụ - kim loại. Cơ chế tăng cường điện từ Cơ chế tăng cường điện từ giải thích rằng cường độ tín hiệu SERS được tăng cường lên nhiều bậc là kết quả của sự cộng hưởng plasmon bề mặt định [7-9].

Trong các cấu trúc kim loại, các tính chất quang học chủ yếu là do các điện tử dẫn của kim loại gây ra. Dưới sự kích thích của ánh sáng tới, các điện tử tự do trên bề mặt kim loại bị kích thích và dao động tập thể đối với các lõi ion kim loại. Tập hợp của các dao động tập thể này được gọi là plasmon bề mặt. Tần số dao động của các điện tử tự do trên bề mặt kim loại ( ) được gọi là tần số plasmon và được xác định bởi công thức sau [10]: = (1.4) Trong đó, là hằng số điện môi trong chân không, là số electron trên một đơn vị thể tích, là khối lượng hiệu dụng của điện tử, là điện tích của electron.4 minh họa cộng hưởng plasmon bề mặt định xứ (LSPR) trong trường hợp chiếu ánh sáng tới một hạt nano kim loại.

Có thể thấy được rằng điện trường của ánh sáng tới E là một điện trường xoay chiều. Ở nửa chu kỳ đầu điện trường tới có hướng hướng lên trên và dưới tác dụng của điện trường ánh sáng tới các điện tử dẫn tự do trên bề mặt hạt nano kim loại sẽ dịch chuyển xuống phía dưới của hạt nano kim loại như vậy phần bên trên của hạt nano kim loại sẽ tích điện dương và hạt nano kim loại trở thành một lưỡng cực điện (dipole). Ở nửa chu kỳ sau, điện trường của ánh sáng tới đổi chiều, lưỡng cực điện cũng đổi chiều và hạt nano kim 10 loại trở thành một lưỡng cực điện dao động. Lưỡng cực điện dao động sẽ phát ra một sóng điện từ do đó lúc này hạt nano kim loại trở thành một nguồn sáng mới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu cấu trúc nano vàng bạc trên silic để nhận biết phân tử hữu cơ qua tán xạ Raman" trình bày một nghiên cứu quan trọng về việc sử dụng cấu trúc nano vàng bạc trên nền silic nhằm phát hiện các phân tử hữu cơ thông qua phương pháp tán xạ Raman. Nghiên cứu này không chỉ mở ra hướng đi mới trong việc phát hiện các chất hữu cơ mà còn có tiềm năng ứng dụng cao trong lĩnh vực vật liệu học và hóa học phân tích. Độc giả sẽ được tiếp cận với các phương pháp chế tạo và ứng dụng của cấu trúc nano, từ đó nâng cao hiểu biết về công nghệ nano trong nghiên cứu và phát triển vật liệu mới.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận án tiến sĩ về cấu trúc nano vàng bạc trên silic trong nhận biết phân tử hữu cơ bằng tán xạ Raman, nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn về các ứng dụng của cấu trúc nano trong nhận biết phân tử hữu cơ. Ngoài ra, bài viết Nghiên cứu sử dụng điện cực cacbon biến tính bằng graphen oxit để xác định hợp chất hữu cơ cũng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp phân tích hóa học hiện đại. Cuối cùng, bài viết Tính chất xúc tác quang của vật liệu composite TiO2 trên nền graphene và carbon nitride sẽ cung cấp thêm thông tin về các vật liệu nano và ứng dụng của chúng trong xúc tác quang. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực nghiên cứu này.