Tổng quan luận án

Công trình Cấu trúc danh ngữ, động ngữ tiếng Việt trong các văn bản chữ Quốc ngữ thế kỉ XVII của tác giả Võ Thị Minh Hà là luận án tiến sĩ chuyên ngành Việt ngữ học (mã số: 62 22 01 15), được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Vũ Đức Nghiệu tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (bảo vệ năm 2017). Luận án tiếp cận đối tượng dưới góc độ ngôn ngữ học lịch sử thông qua việc nghiên cứu một lát cắt đồng đại trong quá khứ nhằm tái hiện cấu trúc cú pháp của tiếng Việt giai đoạn trung đại.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ rõ rằng nghiên cứu lịch sử phát triển của một ngôn ngữ đòi hỏi khảo sát đồng bộ ba bình diện cốt lõi: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp. Trong khi lịch sử ngữ âm và từ vựng tiếng Việt đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, mảng ngữ pháp lịch sử (đặc biệt là cú pháp) vẫn còn thiếu tính hệ thống hoặc chỉ được đề cập phụ trợ. Nguyên nhân chủ yếu là do sự thiếu hụt tài liệu thành văn để khảo chứng giai đoạn khởi đầu của chữ Quốc ngữ (thế kỉ XVII, tiếp sau các công trình của Alexandre de Rhodes). Gần đây, nguồn tư liệu văn xuôi chữ Quốc ngữ thời kì này do chính người Việt viết tay (không phải văn bản dịch thuật) đã được phát hiện và công bố. Lối hành văn xuôi này phản ánh cú pháp chân thực, không bị ràng buộc bởi thi pháp đăng đối, vần điệu như văn vần trước đó, cho phép các ngữ đoạn trung tâm như danh ngữ và động ngữ được triển khai đầy đủ. Do đó, việc khảo cứu danh ngữ và động ngữ thế kỉ XVII là một khoảng trống khoa học cần được xử lý để phục vụ nghiên cứu lịch sử tiếng Việt.

Mục đích nghiên cứu của luận án là tìm hiểu, khảo chứng và phân tích tổ chức của danh ngữ và động ngữ tiếng Việt thế kỉ XVII trên các phương diện: thành tố cấu tạo, sự phân bố trong tổ chức nội bộ, năng lực hoạt động và mối quan hệ giữa các thành tố với nhau.

Để thực hiện mục đích trên, luận án xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Lựa chọn và xác định khung lí thuyết cho luận án về danh ngữ, động ngữ và khả năng áp dụng khung lí thuyết đó để xử lý vấn đề hữu quan.
  2. Khảo sát tổ chức của các danh ngữ trong các nguồn ngữ liệu, phác thảo lược đồ cấu trúc của danh ngữ thế kỉ XVII.
  3. Khảo sát tổ chức của các động ngữ trong các nguồn ngữ liệu, phác thảo lược đồ cấu trúc của động ngữ thế kỉ XVII.
  4. Phân tích các mối quan hệ, khả năng phân bố, sự đối đãi giữa các thành tố trong danh ngữ, động ngữ thế kỉ XVII.
  5. Phân tích các lớp từ vựng tham gia vào các vị trí trong danh ngữ, động ngữ.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các danh ngữ và động ngữ tiếng Việt xuất hiện trong các văn bản chữ Quốc ngữ thế kỉ XVII. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong các tài liệu thành văn được viết bằng chữ Quốc ngữ trong thế kỉ XVII đã được lưu trữ và công bố chính thức.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại lịch sử nghiên cứu danh ngữ, động ngữ trong ngôn ngữ học đại cương và Việt ngữ học:

Trên bình diện quốc tế, danh ngữ (NP) và động ngữ (VP) đã được khảo cứu từ thời kì ngữ pháp tư biện Phục Hưng, qua chủ nghĩa cấu trúc đến ngữ pháp tạo sinh (Keith Brown, Richards & Schmidt 1992, Hadumod Bussmann 1998, R.L. Trask 2007, Andrew Carnie 2002). Tác giả vận dụng các tiêu chuẩn xác định trung tâm ngữ đoạn của Maggie Tallerman (2005), mô hình cấu trúc sâu danh ngữ gồm ba phụ ngữ tính chất, số lượng, vị trí của Jan Rijkhoff (2002) và lý thuyết phổ niệm tất suy 4b của William Croft (2003).

Tại Việt Nam, các nghiên cứu danh ngữ và động ngữ trải qua các giai đoạn chính:

  • Giai đoạn đầu: Các tác giả phương Tây và người Việt ban đầu miêu tả từ loại qua từ điển và văn phạm như Alexandre de Rhodes (1651), A.L. Taberd (1838), Trương Vĩnh Ký (1883 với Grammaire de la langue annamite), Trần Trọng Kim (1936, 1941 với Việt Nam văn phạm), Bùi Đức Tịnh (1948, 1967), Murray B. Emeneau (1951 với Studies in Vietnamese Grammar), Laurence C. Thompson (1965 với A Vietnamese Grammar), Lê Văn Lý (1972 với Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam).
  • Giai đoạn nửa sau thế kỉ XX đến đương đại: Các công trình đi sâu vào bản chất cú pháp và ngữ nghĩa của đoản ngữ với Nguyễn Tài Cẩn (1960, 1975, 1976, 1996, 1998), Đinh Văn Đức (1985, 2001, 2010), Diệp Quang Ban (1991, 2005, 2008, 2009), Cao Xuân Hạo (1998, 1999, 2001, 2005), Nguyễn Đình Hòa (1997), Lưu Vân Lăng (1957, 2000), Nguyễn Kim Thản (1975, 1977, 2008), Phan Ngọc (2011), Nguyễn Phú Phong (2002), Lê Biên (1999), V. Panfilov (2008), Hoàng Dũng và Nguyễn Thị Ly Kha (2001, 2004), cùng các luận án chuyên đề của Trần Đại Nghĩa (1996), Nguyễn Hùng Tưởng (2004), Trần Thuần (2009), Đào Thanh Lan (2014).

Về nghiên cứu lịch đại, các công trình về ngữ pháp lịch sử tiếng Việt còn khiêm tốn, chủ yếu là các bài viết chuyên san của Vũ Đức Nghiệu, Đinh Văn Đức, Nguyễn Thiện Nam. Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là xây dựng mô hình tổ chức danh ngữ và động ngữ tiếng Việt cụ thể cho thế kỉ XVII trên cơ sở nguồn ngữ liệu văn bản chữ Quốc ngữ nguyên gốc, không dùng mô hình tiếng Việt hiện đại để gán ghép một cách tiên nghiệm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên các khái niệm và lý thuyết ngữ pháp chức năng và cấu trúc luận:

  • Quan niệm danh ngữ và động ngữ: Là những ngữ đoạn phụ thuộc hướng tâm (nội tâm). Danh ngữ có thành tố cốt lõi là danh từ; động ngữ có thành tố cốt lõi là động từ.
  • Khung phân tích danh ngữ: Xác định trung tâm danh ngữ dựa trên việc phân loại danh từ theo tiêu chí [± đơn vị] và [± đếm được]. Danh từ tiếng Việt gồm hai nhánh chính: danh từ đơn vị (DĐV, bao gồm DĐV thuần túy hình thức và DĐV có hai mặt hình thức - nội dung) và danh từ khối (DK, gồm DK [+ đếm được] và DK [- đếm được]). Tác giả lựa chọn giải pháp xác định DĐV đóng vai trò là trung tâm cú pháp của danh ngữ (theo quan điểm của Nguyễn Tài Cẩn 1975, Cao Xuân Hạo 1999, Hoàng Dũng - Nguyễn Thị Ly Kha 2004). Phần phụ trước gồm vị trí từ chỉ xuất cái, lượng ngữ chỉ lượng và lượng ngữ chỉ toàn thể. Phần phụ sau gồm định ngữ hạn định (vị trí 1'), định ngữ miêu tả (vị trí 2'), và định ngữ chỉ trỏ vị trí / kết thúc (vị trí 3').
  • Khung phân tích động ngữ: Trung tâm động ngữ được phân tích theo cấu tạo (động từ đơn tiết, động từ đa tiết gồm động từ tổng hợp và ngữ khứ hồi) và theo tính chất chi phối dựa trên khung phân loại 4 nhóm lớn của Nguyễn Kim Thản (1977): Nhóm A (động từ ngoại hướng: tác động, phát nhận, gây khiến, đánh giá nhận xét), Nhóm B (động từ trung tính: xuất hiện - tồn tại - tiêu hủy, hoạt động bộ phận cơ thể), Nhóm C (động từ nội hướng: cảm nghĩ - nói năng, không tác động, hệ từ), Nhóm D (động từ tình thái). Phần phụ trước phân chia theo 5 nhóm ý nghĩa ngữ pháp (tiếp diễn, thời thể, sai khiến, khẳng định/phủ định, mức độ). Phần phụ sau gồm các thực từ và hư từ đảm nhiệm các vai nghĩa bổ ngữ và trạng tố.

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp (IC analysis) để xác lập ranh giới các ngữ đoạn và quan hệ tuyến tính giữa các thành tố.
  • Thao tác so sánh tiền quan (prospective) và hồi quan (retrospective) theo nguyên lý nghiên cứu biến đổi ngôn ngữ lịch đại của David Lightfoot (2005), so sánh ngữ liệu thế kỉ XVII với tiếng Việt trước đó và giai đoạn hiện đại.
  • Kết hợp định tính (phân tích ngữ nghĩa, chức năng cú pháp) với định lượng (thống kê số lượng, tần số xuất hiện và tỷ lệ phần trăm của các tiểu loại từ và mô hình kết hợp).

Nguồn ngữ liệu nghiên cứu gồm 9 văn bản chữ Quốc ngữ thế kỉ XVII đã xuất bản chính thức, được tác giả đối chiếu trực tiếp với các bản chụp ảnh gốc:

  1. Nhóm văn bản do người Việt viết (8 văn bản):
    • Lịch sử nước Annam (1659) của Bento Thiện (viết tắt: lsnan).
    • Thư viết tay gửi Linh mục Marini (1659) của Bento Thiện (viết tắt: b.thien).
    • Thư viết tay gửi Linh mục Marini (1659) của Ignesico Văn Tín (viết tắt: v.tin).
    • Thư của Domingo Hảo gửi thầy cả Gabriel (1687) (viết tắt: vb1).
    • Thư của Domingo Hảo gửi thầy cả Bispo Luys (1687) (viết tắt: vb2).
    • Thư Micheal Catechista Tunkin làm (1688) (viết tắt: vb3).
    • Thư Dionysio Catechiasta Tunkin (1688) (viết tắt: vb4).
    • Thư từ Roma gửi về cho các giáo hữu xác nhận cương vị hai thầy cả (1689) (viết tắt: vb5).
  2. Nhóm văn bản do người nước ngoài viết (1 văn bản):
    • Phép giảng tám ngày (1651) của Alexandre de Rhodes (viết tắt: pg8n).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận

Chương 1 tổng thuật các công trình nghiên cứu danh ngữ và động ngữ trong và ngoài nước, đồng thời xác lập nền tảng lý thuyết cho đề tài. Tác giả khảo sát các quan điểm về thành tố trung tâm của danh ngữ: xem "loại từ" là từ phụ (Trần Trọng Kim, Phan Khôi, Nguyễn Kim Thản), xem "loại từ" đồng vị trí với danh từ (M.B. Emeneau, Diệp Quang Ban), hay xác định "loại từ" (danh từ đơn vị) là trung tâm cú pháp đích thực (Nguyễn Tài Cẩn, Laurence C. Thompson, Cao Xuân Hạo). Tác giả lựa chọn quan điểm DĐV làm trung tâm danh ngữ và phân loại danh từ thành DĐV và DK (gồm DK [+ đếm được] và DK [- đếm được]).

Đối với động ngữ, chương này tổng kết các quan niệm về trung tâm và phụ từ, làm rõ đặc trưng của tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, không biến đổi hình thái, trong đó các ý nghĩa ngữ pháp của vị từ được biểu hiện qua trật tự từ và các hư từ. Luận án tái hiện hệ thống phân loại động từ trung tâm theo tính chất chi phối của Nguyễn Kim Thản thành bảng phân loại chi tiết:

Nhóm lớn Tiểu nhóm Đặc điểm chi phối ngữ nghĩa - cú pháp
Nhóm A: Động từ ngoại hướng A1: Động từ tác động Biểu thị hoạt động cơ thể/phi cơ thể, chuyển tới đối tượng khách quan, tiếp thụ/chịu đựng, vận động có phương hướng xác định.
A2: Động từ phát nhận Động từ ban phát, tiếp nhận, vừa ban phát vừa tiếp nhận, động từ có hạn chế.
A3: Động từ gây khiến Đòi hỏi bổ ngữ chỉ đối tượng chịu tác động và hành động tiếp diễn.
A4: Động từ đánh giá nhận xét Chi phối các nhận định, phẩm bình.
Nhóm B: Động từ trung tính B1: Động từ xuất hiện - tồn tại - tiêu hủy Biểu thị sự sinh thành, hiện diện hoặc mất đi của thực thể.
B2: Hoạt động bộ phận cơ thể Biểu thị chuyển động tự thân của bộ phận thân thể.
Nhóm C: Động từ nội hướng C1: Cảm nghĩ - nói năng Hướng vào hoạt động tâm lý, tư duy, phát ngôn nội tại.
C2: Động từ không tác động Biểu thị trạng thái không truyền tác động ra bên ngoài.
C3: Động từ hệ từ Đóng vai trò liên kết (như là).
Nhóm D: Động từ tình thái Động từ tình thái Biểu thị khả năng, nguyện vọng, ý chí, sự cần thiết (muốn, toan, định, dám, phải, nên...).

Chương 1 cũng tổng hợp hai mô hình ngữ pháp tiếng Việt hiện đại làm chuẩn đối chiếu cho các chương khảo sát lịch đại tiếp theo:

  • Lược đồ danh ngữ hiện đại: Thành tố phụ trước (từ chỉ xuất cái, lượng ngữ chỉ số lượng, lượng ngữ chỉ toàn thể) - Thành tố trung tâm (DĐV, DK [+ đếm được], DK [- đếm được]) - Thành tố phụ sau (định ngữ hạn định, định ngữ miêu tả, định ngữ chỉ trỏ vị trí).
  • Lược đồ động ngữ hiện đại: Thành tố phụ trước (5 nhóm phụ từ) - Thành tố trung tâm (động từ đơn tiết, đa tiết, ngoại hướng, nội hướng, trung tính, tình thái) - Thành tố phụ sau (thực từ, hư từ, tiểu cú).

Chương 2: Cấu trúc của danh ngữ

Chương 2 khảo sát chi tiết cấu trúc danh ngữ trong nguồn tư liệu chữ Quốc ngữ thế kỉ XVII:

  • Thành tố trung tâm (vị trí 0): Khảo sát hai loại hình trung tâm:
    1. Danh từ đơn vị: Gồm DĐV thuần túy hình thức (con, cái, người, sự, việc, đoạn, cuốn...) và DĐV hai mặt hình thức - nội dung. Thống kê cho thấy tần số xuất hiện của DĐV sự và việc rất cao trong văn bản thế kỉ XVII (Bảng 2.1) do đặc thù truyền tải các khái niệm tôn giáo và sự vụ hành chính/lịch sử.
    2. Danh từ khối: Gồm DK [+ đếm được] và DK [- đếm được]. Biểu đồ 2.1 của luận án đối sánh số lượng và tần số xuất hiện giữa DĐV và DK trong toàn bộ nguồn ngữ liệu.
  • Thành tố phụ trước:
    • Lượng từ chỉ lượng: Gồm số từ đếm, từ chỉ lượng ước chừng, từ chỉ phân phối và các hư từ chỉ số lượng (các, những, bấy nhiêu... - Bảng 2.2).
    • Lượng từ chỉ toàn thể: Khảo sát các từ cả, cả và, tất cả, thay thảy... Đáng chú ý, luận án phát hiện dạng thức kết hợp cổ cả và (ví dụ: cả và bốn người [vb3], Cả và hai giả thư [Biểu đồ 2.6]) xuất hiện phổ biến ở thế kỉ XVII nhưng sau này đã tiêu biến trong tiếng Việt hiện đại.
    • Vị trí từ chỉ xuất cái đứng độc lập trước danh từ trung tâm chưa được định hình rõ nét như một chỉ tố chuyên biệt như trong tiếng Việt hiện đại.
  • Thành tố phụ sau:
    • Khảo sát các định ngữ đi kèm DĐV và DK: định ngữ hạn định chỉ loại, chỉ hạng (vị trí +1); định ngữ miêu tả về phẩm chất, hàm ý phức số, trang trí (vị trí +2, ví dụ: nhiều của người ta lắm, một giếng sâu, một rùa vàng, tin mừng này lớn); và định ngữ chỉ trỏ, định ngữ sở hữu, định ngữ vị trí hoặc tiểu cú kết thúc danh ngữ (vị trí +3, ví dụ: công nghiệp các Thánh xưa nay, tên rất thánh Jesu). Bảng 2.3 miêu tả tổng thể các thành tố phụ sau trung tâm.
  • Xác lập mô hình danh ngữ thế kỉ XVII: Tác giả so sánh lược đồ của Emeneau (Bảng 2.5), mô hình của Hoàng Dũng - Nguyễn Thị Ly Kha (Bảng 2.6) và cấu trúc danh ngữ tiếng Hán giản lược (Bảng 2.4) để đúc kết mô hình danh ngữ tiếng Việt thế kỉ XVII (Bảng 2.7) với các vị trí phân bố tuyến tính từ phụ trước (-2, -1), trung tâm (0) đến phụ sau (+1, +2, +3).

Chương 3: Cấu trúc của động ngữ

Chương 3 khảo sát thực tế cấu trúc động ngữ trong văn bản chữ Quốc ngữ thế kỉ XVII:

  • Thành tố trung tâm:
    • Theo cấu tạo: Khảo sát động từ đơn tiết và động từ đa tiết. Trong động từ đa tiết, tác giả phân tích động từ tổng hợp (nằm ngủ, ngồi nghe) và ngữ khứ hồi kết hợp với các từ chỉ phương hướng (ra, vào, lên, xuống, sang, qua, về, lại..., ví dụ: ra Kẻ Chợ, đã trẩy về, lại trở ra Kẻ Chợ, lại trẩy sang Roma).
    • Theo tính chất chi phối: Phân loại và thống kê theo 4 nhóm của Nguyễn Kim Thản. Biểu đồ 3.1, 3.2, 3.3 và 3.4 thống kê chi tiết số lượng, tần số và tỷ lệ phần trăm của các loại động từ: động từ ngoại hướng chiếm tỷ lệ áp đảo (Bảng thống kê các tiểu loại động từ ngoại hướng), tiếp theo là động từ nội hướng, trung tính và tình thái.
  • Thành tố phụ trước: Khảo sát 5 nhóm phụ từ:
    1. Nhóm chỉ sự tiếp diễn của hành động (đều, cùng, lại, cứ, liền..., ví dụ: nhà Ngô liền thề).
    2. Nhóm chỉ sự tồn tại và diễn tiến thời gian (đã, đang, sẽ, từng, vừa, mới..., ví dụ: tôi đã chiềng bề trên).
    3. Nhóm chỉ ý sai khiến (hãy, đừng, chớ...).
    4. Nhóm phủ định: Luận án ghi nhận phụ từ chẳng có tần suất sử dụng rất cao trong các văn bản thế kỉ XVII để biểu thị sự phủ định tồn tại của hành động, bên cạnh không, chưa.
    5. Nhóm miêu tả mức độ của trạng thái (rất, quá, lắm, khôn xiết...).
  • Thành tố phụ sau:
    • Khảo sát các thành tố phụ sau là danh từ/danh ngữ (bổ ngữ đối tượng, đích đến), tính từ/tính ngữ (chỉ trạng thái, phương thức), và động từ/động ngữ khác (chuỗi động từ, thành tố chỉ hướng). Ví dụ điển hình: đã đi trộm xuống dưới Bankoc [vb3].
  • Xác lập mô hình động ngữ thế kỉ XVII: Tổng kết tại Bảng 3.2, miêu tả toàn diện tổ chức động ngữ thế kỉ XVII với khả năng mở rộng của phần phụ trước, tính chi phối của động từ trung tâm và tính đa dạng của các thành tố phụ sau.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự nêu những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:

  • Về mặt lí thuyết:
    • Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và toàn diện cấu trúc danh ngữ và động ngữ tiếng Việt trong các văn bản chữ Quốc ngữ thế kỉ XVII.
    • Phác thảo thành công lược đồ và mô hình cấu trúc danh ngữ, động ngữ tiếng Việt thế kỉ XVII, xác định rõ thành tố cấu tạo, vị trí phân bố nội bộ và mối quan hệ ngữ pháp - ngữ nghĩa giữa các thành tố.
    • Cung cấp luận cứ khoa học góp phần xây dựng mô hình ngữ pháp lịch sử tiếng Việt thời kì trung đại và làm rõ tiến trình phát triển cú pháp tiếng Việt trong lịch sử.
  • Về mặt thực tiễn:
    • Khảo sát, phân loại và xử lý nguồn ngữ liệu văn bản chữ Quốc ngữ thế kỉ XVII (đặc biệt là các thư từ viết tay của người Việt), cung cấp các cứ liệu ngôn ngữ học đáng tin cậy đã được kiểm chứng với bản gốc.
    • Làm sáng tỏ các hiện tượng ngữ pháp lịch sử cụ thể: sự hiện diện của lượng từ toàn thể cổ cả và, mật độ sử dụng phụ từ phủ định chẳng, sự vắng mặt của vị trí từ chỉ xuất cái độc lập phía trước trung tâm danh ngữ, và đặc điểm của các ngữ khứ hồi thế kỉ XVII.
  • Kiến nghị và giải pháp đề xuất: Luận án đề xuất tiếp tục mở rộng việc khảo sát ngữ liệu sang các giai đoạn thế kỉ XVIII và XIX nhằm tạo sự nối kết liên tục trong việc nghiên cứu tiến trình lịch sử ngữ pháp tiếng Việt từ trung đại đến hiện đại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, do nguồn ngữ liệu thành văn chữ Quốc ngữ thế kỉ XVII còn lại không nhiều, luận án chỉ tập trung khảo sát 9 văn bản tiêu biểu đã được công bố chính thức và chuyển tự. Nghiên cứu mới chỉ giới hạn ở một lát cắt đồng đại thế kỉ XVII và tập trung vào hai đơn vị cú pháp cốt lõi là danh ngữ và động ngữ, chưa bao quát các loại đoản ngữ khác (như tính ngữ, giới ngữ) cũng như các bậc cấu trúc lớn hơn như tiểu cú hay câu phức.

Về hướng nghiên cứu tiếp, tác giả định hướng:

  • Mở rộng phạm vi khảo cứu sang các văn bản chữ Nôm cùng thời kì thế kỉ XVII để đối chiếu chéo giữa hai hệ thống văn tự.
  • Tiến hành khảo sát nối tiếp các văn bản chữ Quốc ngữ thế kỉ XVIII và XIX để hoàn thiện bức tranh ngữ pháp lịch sử tiếng Việt theo trục lịch đại liên tục.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành: Hữu ích cho các đề tài về Việt ngữ học, Ngôn ngữ học lịch sử, Cú pháp học tiếng Việt và Lịch sử tiếng Việt. Chương 2 và Chương 3 là tài liệu tham khảo quan trọng về phương pháp miêu tả cấu trúc ngữ đoạn và xử lý ngữ liệu cổ.
  • Giảng viên đại học: Phục vụ trực tiếp cho việc biên soạn giáo trình và giảng dạy các học phần Lịch sử tiếng Việt, Ngữ pháp tiếng Việt, Tiếng Việt trung đại, và Văn bản học chữ Quốc ngữ.
  • Nhà nghiên cứu văn bản học, Hán Nôm và lịch sử văn hóa: Cung cấp thông tin chi tiết về các thư tịch, thư từ viết tay thế kỉ XVII (như tác phẩm của Bento Thiện, Ignesico Văn Tín, Alexandre de Rhodes) cùng hệ thống chuyển tự và đối chiếu ảnh bản gốc.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguồn ngữ liệu văn bản mà luận án sử dụng gồm những tài liệu nào?
Luận án sử dụng 9 văn bản chữ Quốc ngữ thế kỉ XVII đã xuất bản chính thức, gồm 8 văn bản do người Việt viết: Lịch sử nước Annam (1659) và thư gửi Linh mục Marini (1659) của Bento Thiện; thư gửi Linh mục Marini (1659) của Ignesico Văn Tín; 2 thư của Domingo Hảo (1687); thư của Michael Catechista Tunkin (1688); thư của Dionysio Catechiasta Tunkin (1688); thư từ Roma gửi về cho các giáo hữu (1689); và 1 văn bản do người nước ngoài viết là Phép giảng tám ngày (1651) của Alexandre de Rhodes.

2. Luận án giải quyết vấn đề trung tâm danh ngữ như thế nào?
Dựa trên phân loại danh từ theo tiêu chí [± đơn vị] và [± đếm được] cùng các tiêu chuẩn trung tâm ngữ đoạn của Tallerman (2005) và Croft (2003), luận án xác định danh từ đơn vị (DĐV) đóng vai trò là trung tâm ngữ pháp đích thực của danh ngữ. Danh từ khối (DK) đóng vai trò trung tâm khi thỏa mãn các điều kiện kết hợp hoặc làm định ngữ hạn định cho DĐV.

3. Khung phân loại động từ trung tâm nào được tác giả áp dụng trong Chương 3?
Tác giả áp dụng khung phân loại dựa trên tính chất chi phối của Nguyễn Kim Thản (1977), chia động từ thành 4 nhóm lớn: Nhóm A (động từ ngoại hướng: tác động, phát nhận, gây khiến, đánh giá nhận xét), Nhóm B (động từ trung tính), Nhóm C (động từ nội hướng: cảm nghĩ - nói năng, không tác động, hệ từ), và Nhóm D (động từ tình thái).

4. Những nét đặc thù nào của ngữ pháp tiếng Việt thế kỉ XVII được phát hiện trong luận án?
Luận án chỉ ra các hiện tượng đặc trưng của thế kỉ XVII: sự tồn tại của lượng từ chỉ toàn thể cổ cả và (như cả và bốn người); phụ từ phủ định chẳng có tần suất xuất hiện rất lớn trước động từ trung tâm; vị trí từ chỉ xuất cái đứng độc lập trước trung tâm danh ngữ chưa định hình rõ như tiếng Việt hiện đại; và cấu trúc ngữ khứ hồi với các yếu tố chỉ hướng (ra, vào, lên, xuống, sang, về...) có khả năng kết hợp đa dạng.

5. Luận án vận dụng thao tác so sánh tiền quan và hồi quan như thế nào?
Theo quan điểm của David Lightfoot (2005), luận án sử dụng phương pháp đối chiếu hồi quan (so với tiếng Việt giai đoạn trước) và tiền quan (so với tiếng Việt giai đoạn sau và hiện đại) để làm nổi bật những điểm tương đồng, sự biến đổi ngữ nghĩa - ngữ pháp, cũng như sự xuất hiện hay tiêu biến của các yếu tố cú pháp qua các giai đoạn lịch sử.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Võ Thị Minh Hà là công trình chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống về cấu trúc danh ngữ và động ngữ tiếng Việt trong các văn bản chữ Quốc ngữ thế kỉ XVII. Bằng việc kết hợp phương pháp phân tích thành tố trực tiếp, thao tác so sánh lịch sử tiền quan - hồi quan cùng các kỹ thuật thống kê định lượng, tác giả đã phác thảo thành công mô hình cấu trúc danh ngữ và động ngữ của tiếng Việt thời kì trung đại. Công trình góp phần lấp đầy khoảng trống tư liệu về ngữ pháp lịch sử tiếng Việt giai đoạn thế kỉ XVII và cung cấp nguồn ngữ liệu khảo chứng có giá trị khoa học cho chuyên ngành Việt ngữ học.