Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 COVID-19 Theo WHO, bệnh Coronavirus (COVID-19) là một bệnh truyền nhiễm do vi rút SARS-CoV-2 gây ra (14). Hầu hết những người bị nhiễm vi rút sẽ bị bệnh đường hô hấp nhẹ đến trung bình và tự khỏi mà không cần điều trị đặc biệt. Tuy nhiên, một số sẽ bị bệnh nặng và cần được chăm sóc y tế. Những người lớn tuổi và những người có bệnh lý tiềm ẩn như bệnh tim mạch, tiểu đường, bệnh hô hấp mãn tính hoặc ung thư có nhiều khả năng phát triển bệnh nghiêm trọng hơn.
Bất kỳ ai cũng có thể bị bệnh với COVID-19 và trở thành bệnh nặng hoặc tử vong ở mọi lứa tuổi (14).2 Khái niệm về nhân viên điều dưỡng Theo Hội đồng điều dưỡng quốc tế, điều dưỡng là một phần không thể thiếu của hệ thống chăm sóc sức khỏe, bao gồm việc nâng cao sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật và chăm sóc người bệnh về mặt thể chất và tinh thần, người tàn tật ở mọi lứa tuổi trong tất cả các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và trong cộng đồng. Điều dưỡng viên là người đã hoàn thành chương trình giáo dục điều dưỡng cơ bản, tổng quát và được cơ quan quản lý có thẩm quyền cho phép hành nghề điều dưỡng tại quốc gia của mình (15). Tại Việt Nam, theo thông tư liên tịch số 26/2015/TTLT-BYT-BNV, điều dưỡng được chia thành 3 nhóm chức danh nghề nghiệp và đều thực hiện các nhiệm vụ, bao gồm: chăm sóc người bệnh tại cơ sở y tế; sơ cứu, cấp cứu; truyền thông, tư vấn, giáo dục sức khỏe; chăm sóc sức khỏe cộng đồng; bảo vệ và thực hiện quyền của người bệnh; phối hợp, hỗ trợ công tác điều trị; đào tạo, nghiên cứu và phát triển nghề nghiệp (16). Trong thời gian dịch COVID-19 bùng phát tại Việt Nam, cùng với các lực 5 lượng y tế khác, điều dưỡng có vai trò quan trọng trong chăm sóc và phòng ngừa lây nhiễm SARS-CoV-2 trong cơ sở khám chữa bệnh, là người giảm nhẹ các triệu chứng lâm sàng cho người bệnh, điều trị và cứu sống người bệnh.
Điều dưỡng là những người thực hiện và đảm bảo chất lượng chăm sóc người bệnh và cả gia đình của bệnh nhân bất kể trong điều kiện, hoàn cảnh nào. Các điều dưỡng cũng là người cung cấp và sử dụng hiệu quả các vật dụng về vệ sinh và phương tiện phòng hộ cá nhân, thực hiện sàng lọc và phân loại người bệnh. Họ cũng tham gia lập kế hoạch để đối phó với dịch bệnh, hỗ trợ xây dựng các hướng dẫn và các quy trình dựa trên những hướng dẫn mới nhất (8).3 Khái niệm trầm cảm “Trầm cảm” là người trải qua tâm trạng chán nản (cảm thấy buồn, cáu kỉnh, trống rỗng) hoặc mất niềm vui hoặc hứng thú với các hoạt động, hầu như cả ngày, gần như mỗi ngày, trong ít nhất hai tuần. Một số triệu chứng khác cũng xuất hiái niệm trầm cảm bệnh, hỗ trợ xây dựng các hưn (cảm thấy buồn, cáu kỉị bản thân thấp, tuyệt vọng về tương lai, suy nghĩ về cái chết hoặc tự tử, giấc ngủ bị gián đoạn, thay đổi về sự thèm ăn hoặc cân nặng, và cảm thấy đặc biệt mệt mỏi hoặc năng lượng thấp (17).4 Khái niệm lo âu “Lo âu” là từ được dùng để mô tả trạng thái đáp ứng của tâm thần và cơ thể đối với các tình huống gây sợ hãi và đe dọa.
Phản ứng này bao gồm run, khó thở, tim đập nhanh, vã mồ hôi, cảm giác không thực…Lo âu là phản ứng bình thường của con người khi họ gặp phải các tình huống gây căng thẳng. Các ví dụ về các tình huống có thể làm con người lo âu là: suýt nữa bị tại nạn xe cộ, ngồi trong phòng thi, nói trước đám đông (18).5 Khái niệm căng thẳng Từ “stress” được sử dụng trong vật lý để chỉ sự tương tác giữa một lực và lực cản để chống lại lực đó. Người đầu tiên sử dụng từ “stress – căng thẳng” vào từ 6 điển y học là Hans Selye với ý nghĩa là “một phản ứng không đặc hiệu của cơ thể đối với bất kỳ nhu cầu”. Theo ông, căng thẳng là cơ sở cho các dấu hiệu và triệu chứng không đặc hiệu của bệnh tật.
Căng thẳng hiện diện trong một cá nhân trong suốt thời gian tiếp xúc với một nhu cầu không cụ thể. Ông nhận ra căng thẳng cấp tính bắt nguồn từ các phản ứng tổng thể đối với các yếu tố gây căng thẳng, được gọi chung là “hội chứng thích ứng chung”. Hội chứng được chia thành 3 giai đoạn: cảnh báo, phản kháng và kiệt sức. Khi các cá nhân tiếp xúc với một tác nhân gây căng thẳng, ban đầu họ mất cảnh giác, sau đó cố gắng duy trì cân bằng nội môi bằng cách chống lại sự thay đổi, và cuối cùng trở thành nạn nhân của sự kiệt sức trong việc chống lại các tác nhân gây căng thẳng (19).
Theo Lazarus và Folkman (1984), căng thẳng là một mối quan hệ cụ thể giữa con người và môi trường được người đó đánh giá là vượt quá nguồn lực của họ và gây nguy hiểm cho hạnh phúc và sức khỏe của họ (20). Căng thẳng do nghề nghiệp được Viện nghiên cứu quốc gia Hoa Kỳ về sức khỏe và an toàn nghề nghiệp định nghĩa là “những phản ứng có hại về thể chất và cảm xúc xảy ra khi có những yêu cầu của công việc không phù hợp với năng lực, nguồn lực hoặc nhu cầu của người làm việc” (21). Theo WHO, sức khỏe là một trạng thái thoải mái về thể chất, tâm thần và xã hội chứ không chỉ đơn thuần là không có bệnh hay tật (22). Do đó, căng thẳng sẽ là nguyên nhân làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người.
Trong nghiên cứu này căng thẳng được đo lường dựa trên mức độ trầm trọng của những dấu hiệu về thể chất và tinh thần trong vòng 7 ngày trước thời điểm nghiên cứu.6 Ảnh hưởng của căng thẳng Căng thẳng có thể ảnh hưởng đến cá nhân, gia đình, và xã hội Ảnh hưởng tới cá nhân 7 Về mặt thể chất: đau đầu hoặc chóng mặt (23); căng hoặc đau cơ (23); các vấn đề dạ dày và tiêu hóa: làm tăng nguy cơ loét dạ dày (24), làm chậm quá trình tiêu hóa, ảnh hưởng đến vi khuẩn đường ruột, sự cân bằng tự nhiên của các vi khuẩn đường ruột cũng bị phá vỡ, dẫn đến khó tiêu, rối loạn chức năng đại tràng, viêm loét dạ dày – tá tràng (25); đau ngực hoặc tim đập nhanh hơn (23); các vấn đề về tình dục: giảm ham muốn tình dục (26), rối loạn chu kỳ kinh nguyệt, giảm sản xuất testosterone và tinh trùng (27). Về mặt tinh thần: khó tập trung, khó đưa ra quyết định, cảm thấy choáng ngợp, liên tục lo lắng, đãng trí (23). Về mặt hành vi: cáu kỉnh và dễ cáu kỉnh, ngủ quá nhiều hoặc quá ít, ăn quá nhiều hoặc quá ít, tránh một số địa điểm và một số người nhất định, uống đồ có cồn hoặc hút thuốc nhiều hơn (23). Ảnh hưởng tới gia đình: Ảnh hưởng tiêu cực của căng thẳng đối với sức khỏe, gia đình và công việc đều như nhau vì căng thẳng ở mặt này đương nhiên sẽ tác động đến những mặt khác.
Căng thẳng cao và kéo dài sẽ ảnh hưởng đến cảm xúc, cách cư xử (28, 29). Ảnh hưởng tới công việc tại cơ quan/tổ chức: căng thẳng có tác động tiêu cực nghề nghiệp (28), chỉ số khả năng làm việc giảm khi mà mức độ căng thẳng nghề nghiệp tăng. Tình trạng căng thẳng nếu kéo dài sẽ dẫn đến suy giảm chức năng các cơ quan, tăng tỷ lệ các bệnh tim mạch, cơ xương khớp cũng như làm giảm khả năng lao động, tăng tỷ lệ nghỉ hưu sớm (30-33). Qua đó thấy được tình trạng căng thẳng kéo dài ảnh hưởng tiêu cực đến công việc cũng là nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng cơ quan/cơ sở làm việc.
Đặc biệt trong môi trường y tế, căng thẳng có thể dẫn đến sai sót y khoa của NVYT khối lâm sàng. Ảnh hưởng tới xã hội: Hậu quả căng thẳng gây nên gánh nặng về kinh tế thông qua chi phí chăm sóc sức khỏe, thiệt hại cho người sử dụng lao động nói chung và cơ sở y tế (CSYT) nói riêng do nhân viên nghỉ việc, giảm năng suất lao động,… Bên cạnh đó, căng thẳng cũng là một trong số nguyên nhân gây gia tăng tỉ lệ ly 8 hôn và tự sát trong cộng đồng (29).7 Tổng quan các thang đo căng thẳng Trên thế giới có các thang đo thực trạng căng thẳng cho điều dưỡng nói chung như Thang đo trầm cảm, lo âu, căng thẳng (DASS-21), Thang đo tự đánh giá về căng thẳng cảm xúc (Perceived Stress Scale – PSS), Thang đo căng thẳng điều dưỡng (Nursing stress scale – NSS), Bảng câu hỏi sức khỏe tổng quát (General Health Questionnaire – GHQ), Bảng hỏi nội dung công việc của Karasek (Karasek Job Content Questionnaire – JCQ), Thang đo căng thẳng thường xuyên và chấn thương đối với y tá cấp cứu (Traumatic and Routine Stressors Scale on Emergency Nurses – TRSS-EN). Tuy nhiên các thang đo này có những hạn chế nhất định. Thang đo GHQ không được thiết kế cho bối cảnh công việc.
Một số thang đo đánh giá môi trường làm việc nhưng không phù hợp với môi trường chăm sóc sức khỏe, ví dụ thang đo PSS và JCQ. TRSS-EN chỉ đánh giá các yếu tố gây căng thẳng ở điều dưỡng của khoa cấp cứu, tương tự với RANSS là ở trung tâm y tế. Để đánh giá thực trạng căng thẳng của điều dưỡng trong đại dịch COVID- 19, các nghiên cứu đã sử dụng nhiều bộ công cụ khác nhau được sử dụng, phổ biến có: Thang đo trầm cảm, lo âu, căng thẳng (DASS-21), Thang lượng giá tác động của sự kiện – chỉnh sửa (IES-R), Thang đo căng thẳng và lo âu đối với dịch virus (SAVE-9). Điểm chung của các thang đo này là người trả lời tự điền.
Thang đo DASS-21 Thang đo DASS-21 (xây dựng năm 1995) là một bộ ba thang điểm tự báo cáo được thiết kế để đo lường các trạng thái cảm xúc của trầm cảm, lo âu và căng thẳng trong 7 ngày qua. Mỗi thang trong số ba thang đo của DASS-21 chứa 7 mục, được chia thành các thang phụ có nội dung tương tự nhau. Thang đo trầm cảm 9 đánh giá chứng phiền muộn, mất hi vọng, mất giá trị cuộc sống, tự ti, thiếu sự tham gia, mất sự thích thú trong đời sống và trì trệ. Thang điểm lo âu đánh giá mức độ kích thích tự chủ, ảnh hưởng đến cơ xương, tình trạng lo âu và trải nghiệm chủ quan của ảnh hưởng lo lắng.
Thang điểm căng thẳng nhạy cảm với mức độ kích thích mạn tính không đặc hiệu.