Chương 1 giới thiệu tổng quan các nghiên cứu về căng thắng trong công việc của nhân viên y tế (NVYT), các nghiên cứu về gắn kết công việc của NVYT ở trên thế giới và tại Việt Nam, các nghiên cứu về mối quan hệ giữa căng thăng và gắn kết với công việc của NVYT, đồng thời làm sáng tỏ các khái niệm công cụ như căng thắng trong công việc, gắn kết với công việc, nhân viên y tế. Ngoài ra chương này cũng giới thiệu các nghiên cứu về những yếu tố tác động đến mối quan hệ giữa căng thăng và gan kết với công việc của nhân viên y tế. Rủi ro sức khoẻ của nhóm người lao động trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ được đánh giá là cao hơn so với mức trung bình quốc gia và điều này đã được tìm thấy trong các nghiên cứu về sự căng thăng của nhân viên y tế. Có nhiều nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam về căng thăng của nhân viên y tế đã được đưa ra bản luận và nghiên cứu thực tiễn, dưới đây là tổng quan một số nghiên cứu về vấn đề này: Nghiên cứu về căng thang và rối loạn tâm thần ở các chuyên gia chăm sóc sức khoẻ tại nhiều quốc gia khác nhau được thực hiện bởi Weinberg và Creed (2000) chỉ ra rằng 67,4% NVYT được ghi nhận là có căng thăng trong công việc.
Khảo sát trên 1557 nhân viên y tế về căng thang, chan thương tâm lý ảnh hưởng bởi dịch Sars tới nhân viên y tế tại Toronto của Mauder năm 2004 cho kết quả 70% nhân viên y tế có căng thăng tâm lý. Một nghiên cứu khác về căng thắng và tác động tâm lý đến nhân viên y tế tham gia vào tuyến đầu trong đại dịch Sars 2003 tại Hồng Kông của nhóm tác giả Tam, Pang và La (2004) cho thấy trong số 1621 người tham gia vào khảo sát thì 68% báo cáo có căng thăng tâm lý. Trong 907 y tá được hỏi tại một nghiên cứu ở Đài Loan của nhóm tác giả Yang và Pan (2004) có tới 53,4% người được hỏi cho là có căng thăng trong công việc. Khảo sát trên 309 nhân viên y tế tại Iran trong một nghiên cứu về căng thang công việc và tình trạng kiệt sức và các yếu tố ảnh hưởng của Abarghouei (2016) cho 5,9% NVYT căng thăng ở mức độ cao và 90,9% NVYT có mức độ căng thắng trung bình.
Trong nghiên cứu của Moleavin (2011) có 42,9% khách thé báo cáo rằng họ thường xuyên bị căng thăng trong công việc. Một nghiên cứu trên 9137 nhân viên y tế thuộc 20 bệnh viện tại Nhật Bản về căng thang nghé nghiệp của Shinya Ito, Shigeru Fujita và các cộng sự (2013) cho thấy nhóm người lao động trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ gặp rủi ro và có căng thắng cao hơn 10% so với các nhóm dân số khác. Một nghiên cứu ngắn hạn đánh giá về căng thăng tâm lý của nhân viên y tế gây ra bởi đại dịch Covid -19 (2020) của nhóm tác giả Bohlken, Schomig và cộng sự trên 1257 nhân viên y tế cho thấy hầu hết những người khảo sát đều cho rằng họ có căng thắng khi thực hiện công việc. Một số nghiên cứu tại Việt Nam cũng chỉ ra mức độ phô biến về tình trang căng thăng của nhân viên y tế, ví dụ tỉ lệ 100% nhân viên y tế có căng thăng (Phan Thị Mỹ Linh, 2005).
Tỉ lệ này là 79% ở nghiên cứu của Đỗ Nguyễn Nhựt Tran, Nguyễn Hồng Hoa, Trần Thiện Thuan (2008) trong đó có 27% có căng thăng ở mức độ thường xuyên. Trong một nghiên cứu trên 378 điều dưỡng tại ba bệnh viện của nhóm tác giả Lê Thành Tài, Trần Ngọc Xuân, Trần Trúc Linh (2018 ), kết quả cho thấy có tới 45,2% căng thăng ở mức độ cao, hầu hết ở mức độ trung bình 42,8%. Một nghiên cứu khác của Viện Y học và môi trường trên 257 bác sĩ, y tá, hộ lý (tudi trung bình 37) có tuổi nghề trung bình trên 15 năm cho thấy 8,4% nhân viên y tế có điểm stress ở mức cao, 33% mức trung bình và 58,6% ở mức thấp. Về mức độ căng thắng của nhân viên y tế, tổng hợp các nghiên cứu cho thấy mức độ căng thắng được báo cáo theo những tỉ lệ khác nhau, tuỳ thuộc vào nghiên cứu và tuỳ thuộc vào nhóm nhân viên y tế cụ thể là bác sĩ, điều dưỡng hay kĩ thuật viên.
Trong nghiên cứu của Weinberg và Creed (2000), tỉ lệ giữa các nhân viên y tế bị căng thang mức độ cao được báo cáo là 72,9% ở nhóm điều dưỡng, 71,3% ở nhóm bác sĩ và 44,1% ở nhóm nhân viên phụ trợ. Trong nghiên cứu về căng thang trong công việc khi so sánh các ngành nghề khác nhau trong một bệnh viện tại Đài Loan nhóm tác gia Chou L.C (2014) đã khảo sát 1329 chuyên gia y tế trong đó có 101 bác sỹ, 68 trợ lý bác sỹ, 570 y tá, 216 kĩ thuật viên và 374 nhân viên hành chính. Kết quả cho thấy tỷ lệ nhân viên có căng thăng mức cao có liên quan đến tính chất công việc của họ, cụ thé la: điều dưỡng (66%), trợ lý bác sĩ (61,8%), bác sĩ (38,6%), nhân viên hành chính (36,1%), kĩ thuật viên (31,9%). Kết quả này cho thấy dường như chính các điều dưỡng và các trợ lý bác sĩ là nhóm có nguy cơ cao hơn với tình trạng căng thắng trong công việc.
Qua tổng hợp một số nghiên cứu nêu trên có thể thấy răng tình trạng căng thắng ở nhân viên y tế là pho biến; sự căng thang giữa các đối tượng là khác nhau, có sự chênh lệch về tỉ lệ nhân viên y tế có căng thang được bao cáo trong các nghiên cứu khác nhau, đây cũng là điều dễ hiểu khi mỗi nghiên cứu được thực hiện ở mỗi quốc gia khác nhau trên các đối tượng bác sỹ, điều dưỡng, kĩ thuật viên với những bộ công cụ đánh giá và tại các thời điểm khác nhau. Bên cạnh đó, các nghiên cứu cũng cho thấy không phải chỉ trong các hoàn cảnh khó khăn (ví dụ khi bùng né dịch bệnh truyền nhiễm) thì tỉ lệ nhân viên y tế có căng thắng trong công việc mới cao, thực tế nghiên cứu cho thấy ngay trong điều kiện bình thường nhất thì người lao động trong lĩnh vực Y tế có nguy cơ căng thắng cao hơn so với nhóm dân số nói chung trong mỗi quốc gia. Một số nghiên cứu về gắn kết trong công việc của nhân viên y tế Gắn kết với công việc là chủ đề nghiên cứu phô biến trên cả thế giới và tại Việt Nam ở mọi nhóm người lao động. Tuy nhiên chúng tôi không tìm được nhiều nghiên cứu về gắn kết trong công việc của nhân viên y tế trong các nghiên cứu tại Việt Nam.
Tổng hợp các nghiên cứu trên thế giới về chủ đề này cho thấy các kết quả như sau: Về thực trạng gắn kết công việc của nhân viên y tẾ, trong một cuộc khảo sát Dự báo về Điều dưỡng (RN4CAST) được thực hiện tại 12 nước Châu Âu năm 2009, kết quả chỉ ra rằng có 18,35% điều dưỡng nói rằng họ muốn rời bỏ công việc của họ, một nghiên cứu khác trên 3750 nhân viên y tế ở Na Uy (Sjetne, 2011) có 942 người (25,4%) trong số họ trả lời muốn tìm một công việc khác. Khi xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến sự gắn kết của nhân viên y tế với môi trường làm việc, Fiabane, Giorgi và các cộng sự (2013) đã chỉ ra các yếu tố tổ chức và yếu tố cá nhân tác động đến sự gắn kết của nhân viên y tế, theo đó, các yếu tố tổ chức bao gồm khối lượng công việc, phần thưởng, sự hỗ trợ xã hội từ người giám sát và đồng nghiệp, khả năng kiểm soát công việc, sự công bằng trong tổ chức, giá tri của tô chức là những yếu tô có thé làm tăng hoặc giảm sự gắn kết với công việc của nhân viên y tế; các yếu tố về tổ chức này cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Masch và Leiter (1997). Bên cạnh các yếu tố thuộc về tổ chức thì những điều kiện cá nhân như đặc điêm tính cách, vị trí công việc, mức độ hài lòng với công việc, sức khoẻ tâm thần và sức khoẻ thể chất cũng được xem là có tác động đến sự gắn kết của nhân viên y tế. Nghiên cứu về sự gắn kết của các điều dưỡng trong đại dịch Covid-19 của nhóm tác giả Regina Allande-Cusso và cộng sự (2021) tại Tây Ban Nha (n=510) với công cụ là thang đo gắn kết (UWES-9) cho kết quả về điểm trung bình gắn kết với công việc của điều đưỡng là DBT=4,6 (DLC=1,35).
Nghiên cứu này cũng đã so sánh với kết quả của các nghiên cứu về gắn kết công việc của các điều dưỡng trước khi đại dịch Covid-19 xảy ra. Ví dụ, nghiên cứu năm 2019 của tác giả Orgambideza và cộng sự trên 527 điều dưỡng tại Tây Ban Nha tìm thấy điểm số về gắn kết của các điều dưỡng là ĐTB= 4 (BLC=1,2). Một nghiên cứu khác của Garrosa và các cộng sự (2011) thực hiện trên 508 điều dưỡng đến từ bốn bệnh viện đa khoa ghi nhận điểm trung bình cho sự gắn kết với công việc là DTB=4,1 (ĐLC=0,6), nghiên cứu khác ở phía đông bắc Tây Ban Nha của nhóm tác giả Gracia Sierra (2016) và các cộng sự đã mô tả mức độ tham gia công việc của điều dưỡng với ĐTB=4,49 (ĐLC=0,86). Trong bối cảnh như hiện nay, ngoài sự khác biệt về địa lý có vẻ như đại dịch Covid -19 có thê điểm số về mức độ tham gia vào công việc cao hơn một chút so với các giá trị thu được trước đây và theo luận điểm đó, Orgambedez và cộng sự cho rang cần phải làm rõ rang khi các điều dưỡng cảm thấy gắn kết với công việc, họ trải nghiệm công việc với năng lượng ở mức độ cao, say mê với công việc, tăng khả năng tự nhận thức, mang lại ý nghĩa nhiều hơn cho sự phát triển công việc của họ và thu hút chính họ.