Luận án can thiệp phòng chống đuối nước cho học sinh tiểu học tại huyện cao lãnh tỉnh đồng tháp giai đoạn 2015 2019

Chuyên khảo phân tích Luận án can thiệp phòng chống đuối nước cho học sinh tiểu học tại huyện cao lãnh tỉnh đồng tháp, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu

Chuyên ngành

Phòng chống đuối nước

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

dự án nghiên cứu

2015-2019

181
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Một số khái niệm

1.2. Dịch tễ học đuối nước

1.2.1. Đuối nước trên Thế giới

1.2.2. Đuối nước ở Việt Nam

2. ĐẶT VẤN ĐỀ

3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Tóm tắt

I. Giới thiệu về tình hình đuối nước tại Đồng Tháp

Tình hình đuối nước tại Đồng Tháp trong giai đoạn 2015-2019 cho thấy đây là một vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt đối với học sinh tiểu học. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, hàng năm có khoảng 236.000 người tử vong do đuối nước, trong đó trẻ em dưới 15 tuổi chiếm tỷ lệ cao. Tại Đồng Tháp, mỗi năm có khoảng 50-60 trường hợp trẻ em bị đuối nước, nguyên nhân chủ yếu là do thiếu sự giám sát của người lớn và trẻ không biết bơi. Các nghiên cứu cho thấy 97% trường hợp đuối nước xảy ra ở những khu vực không có biển cảnh báo hoặc không có rào chắn bảo vệ. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các can thiệp hiệu quả nhằm nâng cao an toàn nước cho trẻ em.

1.1. Nguyên nhân và hậu quả của đuối nước

Nguyên nhân chính dẫn đến đuối nước ở trẻ em tại Đồng Tháp là do sự bất cẩn của người chăm sóc trẻ và thiếu kỹ năng bơi lội. Nghiên cứu cho thấy 80% trường hợp đuối nước xảy ra do thiếu sự giám sát của người lớn. Hậu quả của đuối nước không chỉ gây ra mất mát về nhân mạng mà còn ảnh hưởng lớn đến tâm lý và kinh tế của gia đình. Việc phòng chống đuối nước cần được thực hiện một cách đồng bộ và hiệu quả, bao gồm việc nâng cao nhận thức của cộng đồng và tổ chức các hoạt động giáo dục về an toàn nước.

II. Các chương trình can thiệp phòng chống đuối nước

Trong giai đoạn 2015-2019, tỉnh Đồng Tháp đã triển khai nhiều chương trình giáo dục nhằm phòng chống đuối nước cho học sinh tiểu học. Một trong những chương trình nổi bật là dạy bơi an toàn cho trẻ em, được thực hiện thông qua sự phối hợp giữa Sở Giáo dục và Đào tạo và các tổ chức phi chính phủ. Chương trình này không chỉ giúp trẻ em nâng cao kỹ năng bơi lội mà còn trang bị cho các em kiến thức về an toàn nước. Theo báo cáo, việc tổ chức dạy bơi cho trẻ em đã góp phần giảm thiểu tỷ lệ đuối nước trong cộng đồng.

2.1. Đánh giá hiệu quả của chương trình

Đánh giá kết quả của các can thiệp cho thấy tỷ lệ trẻ em biết bơi đã tăng lên đáng kể sau khi tham gia chương trình. Nghiên cứu cho thấy rằng việc dạy bơi không chỉ giúp trẻ em có khả năng tự bảo vệ mà còn nâng cao nhận thức của phụ huynh về an toàn nước. Các hoạt động ngoại khóa như tổ chức các buổi học bơi, các buổi truyền thông về phòng chống đuối nước đã thu hút sự tham gia tích cực của cộng đồng. Điều này cho thấy rằng phát triển cộng đồng và nâng cao nhận thức là yếu tố quan trọng trong việc giảm thiểu tình trạng đuối nước.

III. Kết luận và khuyến nghị

Tình hình đuối nước tại Đồng Tháp vẫn còn là một thách thức lớn, đặc biệt đối với học sinh tiểu học. Các can thiệp đã được triển khai trong giai đoạn 2015-2019 đã cho thấy hiệu quả tích cực trong việc nâng cao kỹ năng bơi lội và nhận thức về an toàn nước. Tuy nhiên, cần tiếp tục duy trì và mở rộng các chương trình này để đảm bảo an toàn cho trẻ em. Khuyến nghị cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, nhà trường và gia đình trong việc phòng chống đuối nước. Việc nâng cao kiến thứckỹ năng cho trẻ em là rất cần thiết để giảm thiểu tình trạng đuối nước trong tương lai.

3.1. Đề xuất các giải pháp

Để giảm thiểu tình trạng đuối nước, cần có các giải pháp đồng bộ như: Tăng cường giáo dục về an toàn nước trong trường học, tổ chức các lớp dạy bơi cho trẻ em, và nâng cao nhận thức của cộng đồng về nguy cơ đuối nước. Ngoài ra, cần có các biện pháp bảo vệ như lắp đặt biển cảnh báo và rào chắn tại các khu vực có nguy cơ cao. Việc thực hiện các giải pháp này sẽ góp phần bảo vệ an toàn cho trẻ em và giảm thiểu tình trạng đuối nước trong cộng đồng.

25/01/2025
Luận án can thiệp phòng chống đuối nước cho học sinh tiểu học tại huyện cao lãnh tỉnh đồng tháp giai đoạn 2015 2019

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm Trẻ em: Theo Luật trẻ em của Quốc hội (Luật số: 102/2016/QH13) trẻ em là người dưới 16 tuổi (19),(20). Người chăm sóc trẻ em là người đảm nhận nhiệm vụ chăm sóc trẻ em, bao gồm người giám hộ của trẻ em; người nhận chăm sóc thay thế hoặc người được giao trách nhiệm cùng với cha, mẹ của trẻ em cấp dưỡng, chăm sóc, bảo vệ trẻ em (20). Đuối nước là một sự kiện xảy ra khi đường hô hấp của nạn nhân bị ngập trong một môi trường chất lỏng, dẫn tới khó thở hoặc nghẹt thở, sự kiện này có thể dẫn tới tử vong hoặc không tử vong (21).

Tai nạn thương tích thường được chia thành hai nhóm là tai nạn thương tích không có chủ định và tai nạn thương tích có chủ định. Các nguyên nhân gây ra tai nạn thương tích bao gồm: tai nạn giao thông, đuối nước, điện giật, ngã, bỏng, động vật cắn, vật sắc nhọn, vật tù/vật rơi, ngộ độc, ngạt thở, tự tử, đánh nhau/hành hung, bom mìn và các vật nổ. Dịch tễ học đuối nước 1. Đuối nước trên Thế giới Năm 2019, báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới ước tính hàng năm có khoảng 236.000 người tử vong do đuối nước, chiếm gần 8% tổng số các trường hợp tử vong do tai nạn thương tích trên toàn cầu, đuối nước là nguyên nhân cao thứ 3 trong số các trường hợp tử vong do tai nạn thương tích gây ra và có trên 90% tử vong do đuối nước xảy ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình (1).

Riêng ở khu vực Tây Thái Bình Dương, trẻ em ở độ tuổi từ 5 – 14 tuổi tử vong do đuối nước đứng hàng đầu trong các nguyên nhân tử vong do tai nạn thương tích gây ra (21),(23),(24). 5 Biểu đồ 1: Tỷ suất đuối nước trên 100.000 dân/năm ở các khu vực (22). Biểu đồ 1 cho thấy, tỷ suất đuối nước ở khu vực Châu Phi chiếm cao nhất (7,9/100.000 dân/năm), kế đến là Đông Nam Á (7,6/100.000 dân/năm), thấp nhất là Châu Mỹ (3/100. Biểu đồ 2: Xếp hạng 10 nguyên nhân gây tử vong, trong đó đuối nước là nguyên nhân hàng đầu tại các khu vực của WHO (22).

Đuối nước là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong so với các nguyên nhân tử vong do tai nạn thương tích gây ra, số liệu báo cáo của WHO (biểu đồ 2) cho 6 thấy trong các nhóm tuổi tử vong do đuối nước ở các khu vực trên Thế giới thì nhóm tuổi tử vong do đuối nước chiếm cao nhất là ở hai nhóm tuổi từ 5 – 9 tuổi và nhóm từ 10 – 14 tuổi. Cụ thể ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương, tử vong do đuối nước đứng hàng đầu trong các nguyên nhân gây tử vong là ở hai nhóm tuổi này (5 – 9 tuổi và 10 – 14 tuổi). Tiếp theo là khu vực Đông Nam Á, thì nhóm tuổi từ 10 – 14 tuổi bị tử vong do đuối nước đứng hàng thứ hai và nhóm tuổi từ 5 – 9 tuổi đứng hàng thứ ba trong các nguyên nhân tử vong do tai nạn thương tích (22). Nghiên cứu của Wu Y và cộng sự năm 2017 phân tích cơ sở dữ liệu của WHO về tử vong trẻ em và vị thành niên do đuối nước từ năm 2000 đến 2013 tại 21 quốc gia.

Kết quả nghiên cứu cho thấy đuối nước ở các nguồn nước tự nhiên là nguyên nhân chính gây tử vong ở trẻ em và vị thành niên ở Ba Lan (56-92%), Cu Ba (53-81%), Venezuela (43-56%) và Nhật Bản (39-60%). Trong khi đuối nước ở bể bơi và bồn tắm thì phổ biến ở Mỹ (26-37%) và Nhật Bản (28-39%) (25). Nghiên cứu của Adnan A Hyder (2007), giám sát thương tích không chủ ý ở trẻ em dưới 11 tuổi tại 4 thành phố ở các nước đang phát triển cho thấy, trong số 20 trẻ em bị đuối nước thì có gần 50% là trẻ em trai và trẻ trên 5 tuổi chiếm 55%. Có 85% trẻ em đang chơi bên trong hoặc ngoài nhà tại thời điểm xảy ra tai nạn.

Gần một nửa cha mẹ báo cáo có giám sát con của mình trong khi tắm. Trong nghiên cứu này, tỷ lệ tử vong do đuối nước cao hơn bất kỳ các loại tai nạn thương tích khác (26). Tại Úc đuối nước là nguyên nhân gây tử vong thứ 2 cho nhóm trẻ từ 1 – 14 tuổi. Tỷ suất tử vong do đuối nước ở trẻ dưới 5 tuổi cao gấp 3 lần người lớn (4,6/100.

Tử vong do đuối nước ở trẻ dưới 4 tuổi chiếm đến 20%, trong khi đó nhóm này chỉ chiếm 7% dân số. Có 17% tử vong xảy ra tại các bể bơi và trẻ dưới 4 tuổi chiếm đa số (64%) (27). Tương tự, báo cáo gánh nặng bệnh tật do TNTT của Brazil cũng chỉ ra tử vong do đuối nước chiếm đến 47% (28). Tại Bangladesh, nghiên cứu của Rahman.

A và cộng sự (2009), điều tra 171.366 hộ gia đình bằng cách sử dụng mẫu ngẫu nhiên cụm đa tầng, với 352.000 trẻ em từ 0 – 17 tuổi được chọn. Kết quả cho thấy, trong số 10 nguyên nhân gây tử vong trẻ em từ 0 – 17 tuổi, đuối nước là nguyên nhân đứng hàng thứ 5 với tỷ suất 7 27,3/100. Nếu loại trừ trẻ sơ sinh thì đuối nước là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em từ 1 – 17 tuổi. Nơi xảy ra đuối nước thường gặp là các nguồn nước tự nhiên, ao hồ, sông, rạch tỷ lệ trên 80%.

Đuối nước xảy ra cách nhà trong vòng 20 mét và thời điểm xảy ra từ lúc 9 giờ sáng đến 17 giờ chiều (tỷ lệ khoảng 80%). Đuối nước hầu hết gặp ở các trẻ không biết bơi. Trẻ biết bơi có tỷ lệ thuận với nhóm tuổi, cụ thể khả năng bơi lội của trẻ ở nhóm 4 – 9 tuổi là 3% và ở nhóm 10 – 14 tuổi tăng lên là 33% (29), nghiên cứu này cho thấy rằng đuối nước là nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong trẻ em từ 1 – 17 tuổi, nơi xảy ra đuối nước thường gặp là nguồn nước tự nhiên, hầu hết các trường hợp đuối nước gặp ở trẻ không biết bơi. Theo tác giả Rahman Aminur và cộng sự (2008), cho thấy rằng trẻ em 5 – 10 tuổi, nguy cơ bị đuối nước ở trẻ em nam cao hơn trẻ em nữ.

Nơi được đề cập nhiều nhất dẫn đến đuối nước là ao, hồ, kênh rạch, các trường hợp bị đuối nước thường xảy ra vào buổi trưa. Biện pháp phòng chống đuối nước trẻ em những người tham gia nghiên cứu đề nghị rằng, trẻ em cần được giám sát chặt chẽ và liên tục. Lấp đầy các ao, hồ không sử dụng hoặc phải có rào che chắn. Nghiên cứu cho thấy thiếu sự giám sát ở trẻ em dưới 5 tuổi và thiếu kỹ năng bơi lội của trẻ là yếu tố quyết định đuối nước ở trẻ em tại Bangladesh (30).

Nghiên cứu của Rahman A và cộng sự năm 2017 về Dịch tễ học đuối nước ở Bangladesh. Nghiên cứu điều tra hộ gia đình được thực hiện tại vùng nông thôn Bangladesh từ tháng 6 đến 11 năm 2013, bao gồm 1,17 triệu người. Thông tin về đuối nước được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi. Kết quả cho thấy tỷ suất đuối nước là 15,8/100.

Nam có tỷ lệ đuối nước cao hơn nữ và đuối nước có liên quan đến trình độ học vấn của cha mẹ, người có trình độ học vấn thấp có tỷ lệ trẻ bị đuối nước cao gấp 3 lần so với người có trình độ trung học phổ thông. Đuối nước là một vấn đề y tế nghiêm trọng tại Bangladesh (31). Nghiên cứu của tác giả Mathur A và cộng sự năm 2018, về chấn thương không chủ ý ở trẻ em vùng nông thôn và thành thị tại Ujjain, Ấn Độ: cũng cho thấy đuối nước cũng là một nguyên nhân gây tử vong ở trẻ với khoảng 2% trong tổng số các nguyên nhân gây thương tích tại gia đình (32). 8 Thống kê tại Trung Quốc cho thấy có đến 80% trẻ em từ 13-17 tuổi không biết bơi, một trong những nguyên nhân gây ra đuối nước ở trẻ em là do không biết bơi, vấn đề này càng nghiêm trọng hơn ở vùng nông thôn, nơi có rất nhiều ao, hồ và là nơi mà tỷ lệ tử vong do đuối nước chiếm tới 60% trong tổng số tử vong do tai nạn thương tích tại Trung Quốc (33).

Nghiên cứu của Wenjun Ma và cộng sự (2010), đuối nước là vấn đề nghiêm trọng đối với sức khỏe. Số liệu thu thập từ cuộc điều tra tại tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.000 dân/năm bị tử vong là do đuối nước. Tử vong do đuối nước ở nam cao gấp 1,5 lần so với ở nữ. Vùng nông thôn nguy cơ đuối nước xảy ra cao gấp 2 lần so với vùng thành thị.

Tỷ suất tử vong do đuối nước cao nhất ở nhóm trẻ từ 5-9 tuổi so với các nhóm tuổi khác. Đuối nước xảy ra phổ biến nhất là vùng nước tự nhiên và thời điểm vào mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 9) là đỉnh cao của đuối nước. Nghiên cứu này cho thấy yếu tố nguy cơ gây tử vong do đuối nước ở Trung Quốc là trẻ tiếp xúc với các nguồn nước mở, khả năng bơi kém và thiếu sự giám sát của người chăm sóc trẻ. Nghiên cứu kiến nghị để giảm tử vong do đuối nước là cần phải dạy trẻ bơi và nâng cao việc giám sát trẻ thường xuyên (34).

Tại Singapore, nghiên cứu của Tyebally.Y (2010), về dịch tễ học đuối nước ở trẻ từ 0-16 tuổi đến khoa cấp cứu của mạng lưới Y tế Singapore. Số liệu được thu thập bằng phỏng vấn, rà soát hồ sơ lưu trữ của bệnh nhân và các báo cáo. Kết quả cho thấy tử vong do đuối nước ở nam cao gấp 3 lần so với nữ. Tuổi bị đuối nước cao nhất là 3-4 tuổi và thấp nhất tuổi trên 13 tuổi.

Sự cố xảy ra ở hồ bơi hơn 50%. Ngoài ra, trẻ dưới 5 tuổi nguy cơ bị đuối nước cũng gặp ở bồn tắm, bể, ao. Tại nơi xảy ra đuối nước không có biện pháp an toàn như: Người cứu hộ, vật nổi, áo phao, biển cảnh báo hoặc hàng rào (35). Ở các nước Đông Nam Á, điều tra cộng đồng (2007), tại năm quốc gia: Bangladesh, Trung Quốc, Philippines, Thái Lan và Việt Nam cho thấy rằng nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em dưới 18 tuổi là đuối nước.

Ở năm quốc gia này có tỷ lệ tử vong của đuối nước là 30/100. Một nghiên cứu khác ở Trung Quốc cho thấy tỷ suất tử vong do đuối nước là 5,6/100.000 dân/năm, kết quả này chiếm 11% các tổn thương gây tử vong ở Trung Quốc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận án về can thiệp phòng chống đuối nước cho học sinh tiểu học tại huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2015-2019" tập trung vào việc nghiên cứu và triển khai các biện pháp can thiệp nhằm giảm thiểu tình trạng đuối nước ở học sinh tiểu học tại Đồng Tháp trong giai đoạn 2015-2019. Luận án không chỉ nêu rõ thực trạng và nguyên nhân dẫn đến đuối nước mà còn đề xuất các giải pháp hiệu quả, từ đó nâng cao nhận thức và kỹ năng phòng chống đuối nước cho học sinh. Bài viết mang lại lợi ích cho độc giả bằng cách cung cấp thông tin hữu ích về các phương pháp giáo dục và can thiệp, giúp các nhà giáo dục và phụ huynh có thêm kiến thức trong việc bảo vệ trẻ em khỏi nguy cơ đuối nước.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề giáo dục liên quan, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Biện Pháp Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục An Toàn Giao Thông Tại Trường Trung Học Cơ Sở Huyện An Phú, An Giang, nơi đề cập đến việc giáo dục an toàn cho học sinh, và Kĩ năng sống phòng chống xâm hại tình dục cho học sinh tiểu học, một nghiên cứu về giáo dục kỹ năng sống cho trẻ em. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các phương pháp giáo dục an toàn và bảo vệ trẻ em trong môi trường học đường.