Chương 1: Tổng quan về cán cân thanh toán quốc tế —> OB = - OFB — CA+K+OM= - OFB —> OM =-(CA+K+OFB) Đăng thức cuối cùng cho thấy số dư của hạng mục nhằm lẫn và sai sót chính cân là độ lệch giữa cán cân bù đắp chính thức và tông của cán cân vãng lai và cán vốn. Bởi vì cán cân bù đắp chính thức, cán cân vãng lai và cán cân vốn luôn được xác định (luôn thể hiện là một số cụ thể trên CCTTQT ), do đó đẳng thức trên được áp dụng để xác định số dư nhằm lẫn và sai sót khi lập CCTTQT trong thực tế. THẶNG DƯ VÀ THÂM HỤT CÁN CÂN THANH TOÁN QUỐC TE Phân tích CCTTQT là một trong những cơ sở quan trọng để các nhà hoạch định chính sách đưa ra những chính sách thích hợp cho từng thời kỳ. CCTTQT cần phải được phân tích ở nhiều khía cạnh khác nhau, trong mối quan hệ với các tài khoản kinh tế vĩ mô khác và trong các mối quan hệ giữa các hạng mục của cán cân thanh toán.
Theo hệ thống kế toán bút toán kép, tông các khoản ghi nợ bằng tổng các khoản ghi có CCTT luôn cân băng. Về nguyên tắc, các giao dịch được ghi trong CCTT được chia làm hai loại chính: giao dịch tự định và giao dịch điều chỉnh. Giao dịch tự định là những giao dịch được thực hiện vì lợi ích của bản thân chúng. Điểm đặc trưng của giao dịch tự định là chúng được thực hiện độc lập không phụ thuộc vào trạng thái của cán cân thanh toán của nước lập báo cáo.
Tất cả các giao dịch khác được gọi là giao dịch điều chỉnh. Các giao dịch điều chỉnh không được thực hiện vì lợi ích của chính nó. Đúng hơn, khi các giao dịch tự định để lại một lỗ hồng cần phải được bù đắp thì giao dịch điều chỉnh phải được thực hiện để bù đắp lỗ hồng đó (vì thế mà giao dịch tự điều chỉnh còn được gọi là giao dịch bù đắp). Hãy tưởng tượng một đường năm ngang được vẽ xuyên qua một bảng CCTT.
Phía trên đường tưởng tượng đó, đặt tất cả các giao dịch tự định; phía dưới, đặt các giao dịch điều chỉnh. Khi số dư các giao dịch tự định bằng không (có nghĩa là các khoản thu tự định bằng các khoản chỉ tự định), CCTT là cân bằng. Khi tông các khoản thu tự định (những khoản có) lớn hơn tổng các khoản chỉ tự định (những khoản nợ), thì có một thặng dư; và khi tổng số các khoản thu tự định nhỏ hơn tổng số các khoản chi tu định, thì có một thâm hut. Trong mỗi trường hợp, sự đo lượng TẶ~ ————Ế Trang 12 Chương 1: Tông quan về cắn cân thanh toán quôc tê mắt cân bằng kế toán (thặng dư hay thiếu hụt) được xác định băng chênh lệch giữa tổng số những khoản thu tự định và tổng số những khoản chỉ tự định.
Do CCTT là đồng nhất thức, chúng ta luôn có: Tổng các giao dịch tự định+tông các giao dịch điều chỉnh=0 Hay: Tổng các giao dịch tự định = -Tổng các giao dịch điều chỉnh Do đó, đo lường sự mất cân băng các cân thanh toán cũng có thể xác định như là số âm của chênh lệch giữa các khoản thu và chi của giao dịch điều chỉnh. Tuy nhiên, sự phân biệt giữa giao dịch tự định và giao dịch điều chỉnh trong thực tế là không rõ ràng do đó không có cách đo lường kế toán duy nhất về sự mat cân băng CCTT. Nói chung, để phản ánh trạng thái của CCTTQT của một nước người ta thường dùng cán cân tổng thể (tổng hợp cán cân vãng lai và cán cân vốn và tài chính). Tuy nhiên, cán cân tổng thể đôi khi không được đánh giá chính xác bằng cán cân vãng lai bởi vì nó không phản ánh đúng năng lực sản xuất hay khả năng cạnh tranh kinh tế của một nước.
Chăng hạn, khi một nước thặng dư CCTT, điều này nghe có vẻ lành mạnh nhưng nếu đi sâu vào phân tích từng chỉ tiêu lại thấy cán cân vãng lai bị thiếu hụt lớn và được tài trợ hoàn toàn bằng vay nợ, đầu tư nước ngoài. Do đó, sự phân tích thoả đáng về cơ cấu tài trợ liên quan đến sự én định các cân vãng lai trong tương lai là rất cần thiết. Thăng dư và thâm hụt cán cân thương mại Việc quan sát và phân tích diễn biến cán cân thương mại có ý nghĩa quan trọng trong thực tiến, bởi vì: - Cán cân thương mại là bộ phận chính cấu thành cán cân vãng lai do đó thâm hụt và thặng dư cán cân thương mại thường quyết định đến tình trạng của cán cân vãng lai. - Cán cân thương mại phản ánh kịp thời xu hướng vận động của cán cân vãng lai.
Điều này xảy ra là vì cơ quan hải quan thường cung cấp kịp thời các số liêu về xuất nhập khẩu hàng hóa, trong khi đó việc thu thập các số liệu về dịch vụ, thu nhập và chuyển giao vãng lai thường diễn ra chậm hơn, tức là có một độ lệch về thời gian nhất định. Ta có : TB =X—M Như vậy cán cân thương mại là chênh lệch giữa giá trị xuất khẩu và giá trị ` —— Trang 13 Chương 1: Tông quan về cán cân thanh toán quôc tê nhập khẩu về hàng hóa Cán cân thương mại thặng dư: X > M, cho biết: ® Thu từ người không cư trú > chỉ cho người không cư trú ® Cung ngoại tệ > cầu ngoại tỆ Cán cân thương mại thâm hụt: X < M, cho biết: *® Thu từ người không cư trú < chỉ cho người không cư trứ ® Cung ngoại tỆ < cầu ngoại tệ 1. Thăng dư và thâm hụt cán cân vãng lai Cán cân vãng lai bao gồm cán cân “Hữu hình” và “Vô hình", nên nhìn tổng thể thì nó quan trọng hơn cán cân thương mại. Công thức xác định: CA = TB + Se + Ie + Tr = - (KI + Ks+ AR) - Cán cân vãng lai thặng dư khi: (X — M + Se + le + Tr ) > 0 Cán cân vãng lai thặng dư (CA > 0) có nghĩa thu từ người không cư trú lớn hơn so với chi cho người không cư trú.
Điều này có nghĩa là giá trị ròng của các giấy tờ có giá do người không cư phát hành nằm trong tay người cư trú tăng lên, cung ngoại tệ lớn hơn cầu ngoại tệ. M + 8e + Ic + Tr) < 0 - Cán cân vãng lai thâm hụt khi: ( X— Cán cân vãng lai thâm hụt ( CA < 0) có nghĩa là thu nhập của người cư trú từ người không cư trú là thấp hơn so với chỉ cho người không cư trú. Điều này có nghĩa là giá trị ròng của các giấy tờ có giá do người không cư trú phát hành nằm trong tay người cư trú giảm xuống, cung ngoại tệ nhỏ hơn cầu ngoại tệ. - Hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng, trạng thái cán cân vãng lai là lý tưởng để phân tích trạng thái nợ nước ngoài của quốc gia.
Lý do có thể được giải thích như sau: Trạng thái cán cân vãng lai có mối liên hệ trực tiếp với trạng thái tông nợ nước ngoài của một quốc gia. Cán cân vãng lai cân băng nói lên rằng tổng nợ nước ngoài của quốc gia là không đổi (quốc gia không là chủ nợ và cũng không là con nợ). Cán cân vãng lai thặng dư phản ánh tài sản có ròng của quốc gia đối với phần thé giới còn lại được tăng lên (vị thế quốc gia là chủ nợ). Ngược lại cán cân vãng lai thâm hụt phản ánh tài sản nợ ròng của quốc gia đối với nước ngoài tăng lên (vị thế quốc gia là con nợ).
FT ——--- Trang 14 Chương 1: Tông quan về cán cân thanh toán quốc tê CA = 0, trong đài hạn Theo giả thiết cán cân vãng lai cân băng, nghĩa là: (X-M+Se + lc + Tr)=0 Vì trong dài hạn hiệu ứng can thiệp của NHTW mang tính trung lập do đó chúng ta có thể coi dự trữ ngoại hối của NHTW thay đổi là bằng 0, tức: AR=0 - KI + Ks = 0.có 2 khả năng xảy ra + THI: KI < 0 và Ks > 0. Nếu luồng vốn ngăn hạn chảy vào càng lớn và được cân đối bởi luồng vốn dài hạn chảy ra, có thể làm cho năng lực thanh toán của quốc gia trong tương lai bị đe dọa, dẫn đến áp lực tăng lãi suất và giảm giá nội tỆ. + TH2: KI > 0 và Ks < 0. Nếu luồng vốn dài hạn chảy vào càng lớn và được cân đối bởi luồng vốn ngắn hạn chảy ra, thì sẽ tạo ra môi trường kinh tế vĩ mô ổn định hon để duy trì ổn định tỷ giá, lãi suất và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế quốc gia.
CA = 0, trong ngắn hạn Trong ngăn hạn, các khoản đầu tư đài hạn coi như không đổi, nghĩa là KIE0, Ks+ AR =0 có 2 khả năng Xây ra: + THỊ: AR >0 và Ks < 0. Đây là trạng thái khi vốn ngắn hạn chảy ra được bù đắp bởi sự giảm sút của dự trữ ngoại hối quốc gia. Trong thực tế tình huống này có thể xảy ra trong ngăn hạn, khi NHTW nỗ lực cân đối các luồng vốn ngăn hạn có tính đầu cơ chảy ra nước ngoài băng cách can thiệp bán dự trữ trên thị trường noai hối nhằm bảo vệ tỷ giá, tức ngăn ngừa nội tệ giảm giá. Do vậy cho dù trang thái cán cân vãng lai là cân bằng, nhưng vẫn tổn tại áp lực giảm giá nội tệ hoặc phải tăng lãi suất nội tệ, nếu NHTW không tiếp tục can thiệp bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hồi + TH2: AR <0 va Ks > 0.
Đây là trạng thái khi vốn ngắn hạn chảy vào làm tăng ngoại hối dự trữ quốc gia. Trong thực tế, tình huống này có thể xảy ra, khi NHTVW tăng mức lãi suất của nội tệ để ngăn ngừa các luồng vốn ngắn hạn chạy ra và thu hút thêm các luồng vốn ngăn hạn chạy vào nhằm bảo vệ cho tỷ giá không tiếp tục tăng nữa ( tức ngăn không cho nội tệ tiếp tục giảm giá). Phân tích cán cân vãng lai có ý nghĩa rất quan trọng trong quản lý kinh tế vi Ẩẳ=äsäsẽaăắã m1. Trang 15 Chương 1: Tông quan vê cán cân thanh toán quốc tê mô vì tình trạng của cán cân này tác động trực tiếp đến tỷ giá, lãi suất, tăng trưởng kinh tế, lạm phát và cuối cùng tác động đến cán cân tổng thể.